vanban.org

Bản án 119/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trần Thị H và Sầm Thị H phạm tội "Đánh bạc".

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị H 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Thị H và Sầm Thị H phạm tội "Đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2019/HS-ST
Ngày 29 - 11 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Quang.

Bà Trần Thị Minh Hợi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt, cán bộ Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Ông Bùi Nguyên Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:125/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên Trần Thị H - sinh ngày 22/12/1986 tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: không; Trú quán: xóm 3, xã Đặng Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Nguyên Thứ, sinh năm 1961 và bà Hoàng Thị Nam, sinh năm 1962; Chồng Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1982 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/9/2019. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên Sầm Thị H - sinh ngày 22/02/1982 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; Tên gọi khác: không; Trú quán: xóm 2, xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Cao Lan; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sầm Quang Ngân, sinh năm 1941 và bà Nguyễn Thị Chanh (chết); Chồng: Hoàng Trần Hoa, sinh năm 1977; Con: có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ từ ngày 19/9/2019 đến ngày 22/9/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. chị Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1974; trú tại: xóm 3, xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).

2. anh Trần Đức Minh, sinh năm 1979; trú tại: xóm 3, xã Lưu Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 17/9/2019 Sầm Thị H, sinh năm 1982 ở xóm 02, xã Đặng Sơn, Đô Lương, đã căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền bắc, mở thưởng hàng ngày để nhận tin nhắn đánh lô, đề với người khác. Cách thức đánh đề là lấy hai số cuối của giải đặc biệt nếu người đánh, đánh trúng thì tỷ lệ là 1 ăn 70 lần; Đánh lô là lấy hai số cuối của tất cả các giải xuất hiện trong bảng kết quả, mỗi một điểm lô tương ứng với số tiền 21.500đ, nếu đánh trúng thì được số tiền 80.000đ, nếu số lô xuất hiện ở nhiều giải thưởng thì người trúng được nhân lên tương ứng với các số lô đã xuất hiện trong kết quả xổ số; Đánh xiên đôi là một cặp số có hai số tự nhiên tỷ lệ 1 ăn 10; Xiên ba là một cặp số có ba số tự nhiên tỷ lệ 1 ăn 30.

Với cách thức như vậy vào hồi 17 giờ 05 phút, ngày 17/9/2019 Sầm Thị H đã nhận tin nhắn đánh lô, đề của chị Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1974 ở xóm 03, xã Đặng Sơn, Đô Lương đánh các số: Lô 09, 90 mỗi con 50 điểm với số tiền là 2.150.000 đ, các số đề 62, 63 mỗi con 20.000 đ = 40.000 đ, đề 04, 46 mỗi con 100.000 đ = 200.000 đ; Xiên đôi các số 86, 21 = 500.000 đ, xiên đôi 76, 23 = 500.000 đ, Xiên ba 76, 64, 23 = 500.000 đ, Xiên ba 21, 86, 46 = 500.000 đ. Tổng cộng số tiền chị Nguyễn Thị Hà đánh lô, đề với Sâm Thị H là 4.390.000 đ. Sau khi có kết quả xổ số mở thưởng chị Nguyễn Thị Hà không trúng số nào.

Nhận tin nhắn đánh lô đề với anh Trần Đức Minh, sinh năm 1979, ở xóm 03, xã Lưu Sơn, Đô Lương các số lô đề, cụ thể: Lô 12, 89, 83, 66 mỗi con 10 điểm = 860.000đ; Đề 89 = 100.000 đ. Tổng cộng số tiền anh Trần Đức Minh đánh lô, đề với Sâm Thị H là 960.000 đ. Sau khi có kết quả xổ số mở thưởng anh Trần Đức Minh không trúng số nào.

Sau khi nhận được tin nhắn ghi lô đề của chị Nguyễn Thị Hà và Trần Đức Minh, với tổng số tiền 5.350.000đ Sầm Thị H đã chuyển tất cả các số lô đề trên qua tin nhắn Masenger cho Trần Thị H, sinh năm 1986, ở xóm 03, xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An để hưởng tiền hoa hồng.

Vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công An huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã thu giữ các tang vật cụ thể:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng gắn sim số 0984519449 của Trần Thị H.

- 01 Ipad hiệu Iphone màu ghi của Sầm Thị H

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA – 1010 màu đen gắn sim số 0369046700 của Sầm Thị H.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen gắn sim số 0865243568 của Nguyễn Thị Hà.

- 01 điện thoại di động hiệu Q.Mobile màu đen gắn sim số 0986580478 của Trần Đức Minh.

- Tiền VNĐ 5.350.000 đ(Năm triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng)

Hiện các vật chứng này đã được chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An bảo quản theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 11/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Thị H, bị cáo Sầm Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Sầm Thị H và Trần Thị H thừa nhận: vào ngày 17/9/2019, thông qua tin nhắn điện thoại, H đã bán số lô, đề cho Nguyễn Thị Hà và Trần Đức Minh với số tiền 5.350.000 đồng. Sau đó Sầm Thị H đã chuyển toàn bộ số tiền 5.350.000 đồng cho Trần Thị H qua tin nhắn Masenger để nhận tiền hoa hồng. Bị cáo H xin được xử phạt tiền.

Bị cáo Trần Thị H thừa nhận: thông qua tin nhắn điện thoại, ngày 17/9/2019, bị cáo đã nhận tin nhắn chuyển sô lô đề với số tiền 5.350.000 đồng từ bị cáo H. Tuy nhiên, các bị cáo chưa kịp thanh toán tiền mua lô/đề thì bị công an bắt giữ. Bị cáo xin được xử phạt tiền.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội Đánh bạc và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Sầm Thị H từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng

Về xử lý vật chứng: tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền sử dụng để đánh bạc 5.350.000 đồng; 02 điện thoại di động và một máy tính bảng thu giữ của bị cáo H bị cáo H cần tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước. 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Thị Hà, Trần Đức Minh cần trả lại cho anh Minh, chị Hà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ và không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án. Căn cứ vào các Điều 293, 299 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Sầm Thị H và Trần Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa kết luận: Có đủ cơ sở kết luận Sầm Thị H và Trần Thị H phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Vào ngày 17 tháng 9 năm 2019 tại địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Sầm Thị H đã nhận tin nhắn ghi lô đề của chị Nguyễn Thị Hà và anh Trần Đức Minh với số tiền 5.350.000 đồng. Sau đó H chuyển số tiền này cho Trần Thị H qua tin nhắn Masenger để nhận tiền hoa hồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo Sầm Thị H và Trần Thị H về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có cơ sở.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm không lớn cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Trong tình hình hiện nay, tệ nạn đánh bạc đang gây nên nỗi bức xúc cho toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội. Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, trong vụ án này bị cáo H là người ghi lô đề và chuyển cho bị cáo H nên vai trò của các bị cáo là ngang nhau.

Tuy nhiên cần xét: các bị cáo này đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ như phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự); thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự); Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án (điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự). Nhân thân các bị cáo tốt, có điều kiện kinh tế đảm bảo thi hành án bằng hình thức phạt tiền nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo là đủ nghiêm.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Trong vụ án này có Nguyễn Thị Hà và Trần Đức Minh đã thực hiện hành vi đánh bạc nhưng số tiền dùng vào việc đánh bạc chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đã chuyển cho Công an huyện Đô Lương xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng gắn sim số 0984519449 của Trần Thị H; 01 Ipad hiệu Iphone màu ghi, 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA – 1010 màu đen gắn sim số 0369046700 của Sầm Thị H. Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước. Còn 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen gắn sim số 0865243568 của Nguyễn Thị Hà; 01 điện thoại di động hiệu Q.Mobile màu đen gắn sim số 0986580478 của Trần Đức Minh cần trả lại cho anh Minh, chị Hà

Số tiền đánh bạc 5.350.000 đồng là tiền các bị cáo và Trần Đức Minh dùng vào việc đánh bạc hiện đang bảo quản tại Tài khoản số 3949.0.1053629.00000 theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 24/9/2019. Cần tịch thu sung quỹ nhà nước

Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội; buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Thị H và Sầm Thị H phạm tội "Đánh bạc".

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thị H 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Sầm Thị H 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng gắn sim số 0984519449 của Trần Thị H; 01 Ipad hiệu Iphone màu ghi, 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA – 1010 màu đen gắn sim số 0369046700 của Sầm Thị H; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1974,trú tại: xóm 3, xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen gắn sim số 0865243568; Trả lại cho anh Trần Đức Minh, sinh năm 1979, trú tại: xóm 3, xã Lưu Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An 01 điện thoại di động hiệu Q.Mobile màu đen gắn sim số 0986580478.

(Các vật chứng này đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/11/2019).

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền đánh bạc 5.350.000 đồng (năm triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) thu giữ của các bị cáo hiện đang bảo quản tại Tài khoản số 3949.0.1053629.00000 theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 24/9/2019).

3. Về án phí: áp dụng Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Thị H và Sầm Thị H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ