- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị Hằng và anh Vũ Văn Lương.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2019/HNGĐ-ST Ngày: 17-5-2019 V/v: Ly hôn, con chung giữa chị Hằng, anh Lương. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Vũ Văn Ái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Nguyễn Ngọc Chinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đính – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên tòa : Ông Phạm Anh Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 26/2019/TLST- HNGĐ ngày 14-02-2019 về việc xin ly hôn, con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19-4-2019 và Quyết định hoãn phiên toà số 16/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03-5-2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Hằng, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn 1, xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn Lương, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm 8, xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
(Tại phiên tòa có mặt chị Hằng, anh Lương vắng mặt lần thứ 2).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 30 tháng 01 năm 2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Đặng Thị Hằng trình bày:
Chị Đặng Thị Hằng và anh Vũ Văn Lương kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03-9-2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh Lương một thời gian ngắn, sau đó lên Hà Nội làm kinh tế, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do anh Lương không chịu khó làm kinh tế, phá tán tài sản, chị Hằng và gia đình đã khuyên bảo, góp ý nhiều lần, nhưng anh Lương không thay đổi. Ngoài ra, anh Lương còn nhiều có hành động đánh chửi chị Hằng. Do không thể tiếp tục chung sống với nhau được nên tháng 9-2015 chị Hằng đã sống ly thân. Nay nhận thấy tình vợ chồng không còn nên chị Hằng làm đơn xin được ly hôn anh Lương.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Đặng Bảo Anh, sinh ngày 26-8-2015, hiện đang do chị Hằng nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị Hằng xin được nuôi dưỡng cháu Bảo Anh và không yêu cầu anh Lương phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị Hằng.
Về tài sản chung và công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên chị Hằng không yêu cầu Toà án giải quyết.
Toà án đã kết hợp với Ban Công an xã Hải Toàn giao Thông báo thụ lý số 26/TB-TLVA, ngày 14-02-2019 hợp lệ cho anh Vũ Văn Lương và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nhưng anh Lương không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Hằng. Ngày 19-04-2019 Toà án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và đã giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Vũ Văn Lương, tuy nhiên anh Lương vẫn vắng mặt, không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phám và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vu ̣ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng anh Lương không đến Tòa án làm việc là từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh Lương là phù hợp với quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Đặng Thị Hằng ly hôn với anh Vũ Văn Lương. Về con chung, giao cháu Vũ Đặng Bảo Anh, sinh ngày 26-8-2015 cho chị Hằng nuôi dưỡng, không buộc anh Lương phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Hằng; chị Hằng phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Anh Vũ Văn Lương là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần 02, nhưng anh Lương vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Lương.
. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Đặng Thị Hằng và anh Vũ Văn Lương là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 03-9-2014. Do trong cuộc sống anh Lương không tu chí làm kinh tế nên giữa chị Hằng và anh Lương thường xuyên xảy ra xô xát cãi chửi nhau. Tháng 9-2015, chị Hằng và anh Lương đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, và trách nhiệm đối với nhau. Nay chị Hằng đề nghị xin được ly hôn anh Lương.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Hằng đối với anh Vũ Văn Lương thì thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hằng và anh Lương là trầm trọng, chị Hằng và anh Lương đã sống ly thân thời gian dài, nhưng 02 bên không có biện pháp nào để vợ chồng về chung sống đoàn tụ. Sau khi thụ lý đơn xin ly hôn của chị Hằng, Tòa án đã thông báo các văn bản tố tụng để anh Lương thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng anh Lương vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi cho Tòa án. Như vậy chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh Lương và chị Hằng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị Hằng đối với anh Lương là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: chị Đặng Thị Hằng và anh Vũ Văn Lương có 01 con chung là cháu Vũ Đặng Bảo Anh, sinh ngày 26-8-2015, hiện đang do chị Hằng nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị Hằng đề nghị xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh Lương cấp dưỡng tiền nuôi con.
Xét nguyện vọng và điều kiện nuôi dưỡng con chung của chị Đặng Thị Hằng thì thấy: Cháu Vũ Đặng Bảo Anh hiện đang do chị Hằng nuôi dưỡng; chị Hằng có nghề nghiệp và mức thu nhập ổn định. Anh Lương không có ý kiến về việc nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của cháu Bảo Anh nên tiếp tục giao cháu Bảo Anh cho chị Hằng nuôi dưỡng là phù hợp. Do chị Hằng không yêu cầu anh Lương phải cấp dưỡng tiền nuôi con nên về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Anh Lương được quyền thăm con chung không ai được cản trở việc anh Lương thực hiện quyền thăm con, nhưng không được lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản chung và công nợ: Chị Hằng xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ. Anh Lương không có ý kiến gì về tài sản chung và công nợ nên về tài sản chung và công nợ Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về án phí: Chị Đặng Thị Hằng phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị Hằng và anh Vũ Văn Lương.
2. Về con chung: Giao cháu Vũ Đặng Bảo Anh, sinh ngày 26-8-2015 cho chị Đặng Thị Hằng chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi cháu Bảo Anh thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Vũ Văn Lương không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Hằng và được quyền đi lại chăm sóc con, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Đặng Thị Hằng phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0000296 ngày 14-02-2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị Hằng đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh: 01 bản; - VKSND huyện + Tỉnh: 2 bản; - Chi cục THA dân sự huyện Hải Hậu: 1 bản; - UBND xã Hải Toàn: 01 bản; - Đương sự: 01 bản; - Hồ sơ vụ án: 02 bản; - Lưu văn phòng: | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Văn Ái |