vanban.org

Bản án 119/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 02/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Nguyễn Viết T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Phạt Nguyễn Viết T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2018 đến 30/5/2018. TA TP Hà Nội Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Viết T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C - TP H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

* * * * * * *
Bản án số: 119/2018/HS-ST
Ngày: 02-10-2018.

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TP H

-Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tưởng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Trung Úy

Ông Trần Văn Huề

-Thư ký phiên tòa : Ông Tô Mạnh Hà – Thư ký TAND huyện C

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa : Bà Phạm Tuyết Mai – Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở TAND huyện C, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo :

Nguyễn Viết T, sinh năm 1988; Đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn 5, xã Q, huyện C, TP H; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Viết L và bà Trần Thị T; có vợ là Trịnh Thị Y; có 02 con, lớn sinh năm 2012 nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2018 đến ngày 30/5/2018 thay đổi biện pháp ngăn chặn. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại: Ông Lê Văn N - sn 1967; trú tại: Thôn T, xã T, huyện C, TP H. (đã chết).

* Đại diện hợp pháp cho người bị hại:

- Bà Trần Thị L, sinh năm 1964 (vợ ông N). Có mặt.

- Anh Lê Văn T, sn 1989 (con ông N). Có mặt.

Đều trú tại: Thôn T, xã T, huyện C, TP Hi.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1958. Có mặt.

- Chị Trịnh Thị Y – sn 1988. Có mặt.

Đều trú tại: Thôn 5, xã Q, huyện C, TP H.

- 2 -

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do chưa có giấy phép lái xe theo quy định, Nguyễn Viết T mua và đăng ký xe ô tô BKS 29H – 106., T muốn tập lái xe và làm quen với xe trước khi thi lấy giấy phép lái xe. Khoảng 08 giờ ngày 20/04/2018, T gọi điện cho Nguyễn Văn T là người đã có giấy phép lái xe, T nhờ T đến nhà điều khiển xe ô tô BKS 29H-106. đến sân bóng xã T, huyện C, TP H để T tự tập lái xe. Tại sân bóng, T tự điều khiển xe ô tô đi lại xung quanh sân và đi lại thành thạo, đến 13 giờ cùng ngày, T điều khiển xe ô tô, còn T ngồi ghế phụ đi từ sân bóng xã T trên trục đường liên thôn hướng từ thôn T, thôn K đi UBND xã T để về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn K, xã T, T quan sát qua gương chiếu hậu phát hiện có một xe mô tô đi phía sau cùng chiều vượt bên phải xe ô tô của T nên T đã đánh lái xe sang trái để tránh. Lúc này, ông Lê Văn N điều khiển xe đạp đi phía trước ngược chiều. Do T không chú ý quan sát, điều khiển xe đi lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều dẫn đến phần đầu bên trái xe ô tô của T đã đâm vào xe đạp do ông N điều khiển hất văng ông N vào mép đường bên trái hướng về UBND xã T. T dừng xe cùng T xuống phát hiện ông N bị thương, T đã làm hô hấp nhân tạo, đồng thời hô hào người dân xung quanh đưa ông N đi cấp cứu. Mọi người xung quanh khu vực hiện trường phát hiện tai nạn đã chạy đến rất đông, T sợ người nhà của ông N bức xúc đánh đập, phá hủy xe ô tô nên T đã nhờ T điều khiển xe ô tô cùng T rời khỏi hiện trường, sau đó điều khiển xe ô tô đến Công an xã T để trình báo sự việc.

Hậu quả: Ông Lê Văn N bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Quân y 103. Do thương tích quá nặng nên gia đình đưa về nhà và tử vong vào hồi 14h 15 phút ngày 21/04/2018.

Căn cứ sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường dựng lại ngày 27/4/2018, xác định nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường hơi cong sang phải, hướng thôn Tân Hội đi UBND xã T, mặt đường rộng 4,15 m rải bê tông, bằng phẳng, đoạn đường không bị che khuất tầm nhìn. Các số đo trên sơ đồ hiện trường được đo vào mép đường bên trái hướng thôn T đi UBND xã T. Hiện trường để lại phương tiện sau:

+ Về phương tiện:

- Xe ô tô loại xe tải BKS 29H – 106.: Đỗ tự nhiên trên mặt đường liên thôn, đầu xe hướng UBND xã T. Đo từ trục bánh trước bên trái đến mép đường

- 3 -

là 2,15 m. Đo từ trục bánh sau bên trái đến mép đường là 2,1 m, đo đến trục bánh sau xe đạp là 10,6 m.

- Xe đạp: Đổ nghiêng bên trái trên mặt rãnh thoát nước hướng thôn T đi UBND xã T, đầu xe quay hướng đi thôn T, đuôi xe quay hướng UBND xã T. Đo từ trục bánh trước đến mép đường là 45cm, đến cột điện dân sinh ký hiệu KV/B12 là 21,3 m. Đo từ trục bánh sau đến mép đường là 40cm.

+ Về dấu vết: Căn cứ sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 20/4/2018 xác định các số đo của dấu vết được đo vào mép đường phải hướng thôn Tân Hội đi UBND xã T như sau:

- Vết cà xước mặt đường đứt đoạn, có chiều hướng thôn T đi UBND xã T dài 2,1 m, rộng 01cm. Đo từ đầu vết đến mép đường là 3,98 m. Đo từ cuối vết đến mép đường là 4,8m, đo đến trục bánh trước xe đạp là 50cm (đánh số 1 trên sơ đồ hiện trường);

- Vùng máu loang nhỏ giọt trên mặt đường, diện (40 x 15) cm, đo từ tâm vùng đến mép đường là 3,9 m, đo đến trục bánh sau xe đạp là 20 cm (đánh số 2 trên sơ đồ hiện trường).

Khám nghiệm tử thi:

+ Phần khám ngoài: Tử thi được xác định là: Ông Lê Văn N, chiều dài tử thi 1m62 thể trạng trung bình.

Các dấu vết cơ thể:

- Vùng đầu, mặt, cổ: vùng chẩm phải chân tóc gáy 09cm, cách giữa 05cm có vết sây sát da, diện (3 x 2)cm, xung quanh sưng nề trên diện (9 x 7)cm. Vùng thái dương phải, cách đuôi lông mày 01cm có vết sây sát da diện (0,5 x 0,7)cm. Tổ chức mềm xung quanh mắt trái tụ máu. Quanh gốc vành tai phải bị tụ máu diện (9 x 5)cm. Dập tụ máu niêm mạc môi trên và dưới bên phải diện (2 x 2,5)cm. Vùng cằm bị tụ máu diện (7,5 x 3,5)cm. Mất răng số 1 – 1 hàm trên.

- Vùng ngực bụng: sát dưới đầu ngoài xương đòn phải có vết sây sát da, diện (1,2 x 2)cm. Sát dưới đầu ngoài xương đòn trái có lỗ thủng da dạng tiêm và sây sát da diện (3 x 3,5)cm.

- Vùng lưng mông: giữa lưng, trên gai chậu 06cm có vết sây sát da.

- Mu gốc ngón 2 bàn tay phải, khuỷu tay trái, cẳng chân phải có vết sây sát da, có diện từ ( 1,5 x1), ( 2,5x2,5), (4x2) cm.

+ Phần mổ tử thi:

- Xương sọ vùng thái dương trái có đường vỡ ngang dài 08cm.

- Từ xương chũm phải lên vùng chẩm và đỉnh trái ra vùng thái dương phải bị vỡ dài 27,5cm.

- 4 -

Ngày 21/04/2018, CQĐT – Công an huyện C đã ra Quyết định số 21/CQĐT trưng cầu giám định pháp y xác định nguyên nhân tử vong của ông Lê Văn N. Tại Bản giám định pháp ý số: 5322/PC54-PY ngày 14/06/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP H kết luận: Nguyên nhân chết: Do chấn thương sọ não nặng. Thương tích trên cơ thể nạn nhân do va chạm với vật tày cứng có diện gây nên.

Khám nghiệm dấu vết phương tiện:

+ Xe đạp do ông Lê Văn N điều khiển để lại dấu vết sau:

- Vành bánh trước bị đẩy cong vặn, chiều từ ngoài vào tâm bánh xe, phải sang trái. Mặt ngoài càng phanh bánh trước bên phải có vùng trượt sát kim loại, bám dính chất màu xanh, chiều từ trước về sau. Mặt ngoài trước càng xe bên phải có vùng trượt sát kim loại, bong mạ, chiều trước về sau, phải sang trái, bề mặt dính chất màu xanh.

- Bên phải vành bánh trước có vùng trượt sát kim loại, bám dính chất màu xanh. Mặt ngoài tay phanh bên phải có vùng bám dính chất màu xanh.

- Ghi đông bên trái bị đẩy cong vặn theo chiều trên xuống dưới, trước về sau. Đầu ngoài tay nắm bên trái có vùng trượt sát nhựa, chiều trên xuống dưới, bề mặt bám dính đất.

+ Xe ô tô BKS 29H – 106. do Nguyễn Viết T điều khiển để lại các dấu vết sau:

- Bên trái ốp kim loại đầu xe và góc trái có vùng trượt sát sơn, dạng trượt sát sạch bụi đất. Cụm đèn chiếu sáng đầu xe bên trái hơi bị đẩy xô lệch chiều trước về sau. Mặt ngoài bên trái ba đờ sốc đầu xe có vùng trượt sát, bong sơn bả ma tít, chiều trên xuống dưới diện ( 33 x 24) cm.

- Bên trái biển số đầu xe bị đẩy cong bẹp trước về sau, bề mặt vùng bẹp lõm có các vân vết li ti. Mặt ngoài dưới ba đờ sốc đầu xe có vùng trượt sát sơn, chiều trái sang phải, trên xuống dưới, bề mặt bám dính chất màu đen. Mặt ngoài ốp kim loại bên trái đầu xe có vùng trượt sát bong sơn, chiều trái sang phải.

Quá trình khám nghiệm dấu vết để lại trên hai phương tiện xe đạp và xe ô tô BKS 29H – 106. là phù hợp với dấu vết va chạm của hai phương tiện đi ngược chiều, phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) xe đạp loại xe cào cào, màu sơn trắng bạc do ông Lê Văn N điều khiển;

- 01 (một) ô tô BKS 29H – 106. nhãn hiệu THACO loại xe tải có mui, màu sơn xanh do Nguyễn Viết T điều khiển;

- 5 -

CQĐT Công an huyện C làm rõ nguồn gốc, sở hữu hợp pháp của hai phương tiện trên. Đối chiếc xe ô tô, đăng ký chính chủ Nguyễn Viết T. Chị Trịnh Thị Y là vợ của T đã có đơn xin lại phương tiện để quản lý và chiếc xe đạp trên của gia đình ông N, đại diện gia đình có đơn xin lại xe. Ngày 8/5/2018 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự định gía chiếc xe đạp bị hỏng nặng không sửa chữa được nên định giá xe trước khi tai nạn là 1.500.000 đ và thiệt hai chiếc xe ô tô phải thay thế sửa chữa là 1.000.000đồng.

Ngày 18/05/2018, CQĐT ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe đạp cho gia đình ông Lê Văn N và trả lại xe ô tô tải nhãn hiệu THACO BKS 29H – 106. cho gia đình Nguyễn Viết T để quản lý, sử dụng.

*Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, gia đình Nguyễn Viết T đã đến thăm hỏi, hai bên đã hòa giải và gia đình T tự nguyện bồi thường tiền mai táng phí, xe đạp và tổn thất về tinh thần cho gia đình ông Lê Văn N tổng số là 120.000.000 đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), gia đình ông N đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường thêm bất kỳ khoản nào khác và có đơn đề nghị các cơ quan pháp luật miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Viết T, và cam kết không khiếu nại gì về vụ tai nạn giao thông trên.

Tại cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 30/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố Nguyễn Viết T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C sau khi phân tích, giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Viết T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; Đề nghị phạt Nguyễn Viết T từ 15 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam, tạm giữ từ 22/4/2018 đến 30/5/2018.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay đại diện gia đình người bị hại thừa nhận gia đình bị cáo đã bồi thường 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Viết T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- 6 -

Tại phiên tòa đại diện gia đình người bị hại đề nghị Hội đồng xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện gia đình người bị hại và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, Truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Viết T khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã quy kết. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm xe và lời khai của những người làm chứng. Nh vËy cã ®ñ c¬ së kh¼ng ®Þnh. Bị cáo T không có giấy phép lái xe theo quy định, khoảng 13 giờ ngày 20/04/2018 bị cáo đã điều khiển xe ô tô BKS 29H – 106. của mình, trên xe có Nguyễn Văn T ngồi ghế phụ đi trên đường bê tông thuộc thôn K, xã T, C, thành phố H theo hướng thôn T, thôn K, UBND xã T đã đi lấn sang phần đường của xe ngược chiều và đâm vào xe đạp do ông Lê Văn N điều khiển đi ngược chiều, hất văng ông N vào mép đường làm ông Lê Văn N bị thương nặng đến ngày 21/04/2018 thì tử vong tại nhà riêng do chấn thương sọ não. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứu, đúng quy định của pháp luật.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, gây đau thương tang tóc cho gia đình nạn nhân, trong vụ án này bị cáo là người hoàn toàn có lỗi, bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn điều khiển phương tiện tham gia giao thông và không làm chủ tốc độ, thiếu

- 7 -

quan sát đã đi lấn phần đường dành cho xe đi người chiều nên đã gây nên tai nạn dẫn đến người bị hại là ông N tử vong. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ khả năng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và đáp ứng được yêu cầu răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

. Đánh giá các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo cùng gia đình đã khắc phục bồi thường toàn bộ những thiệt hại cho đại diện gia đình người bị hại và đại diện gia đình người bị hại cũng đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, mặt khác sau khi gây tai nạn bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú về hành vi của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt giúp bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay đại diện gia đình người bị hại thừa nhận gia đình bị cáo đã bồi thường 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố Nguyễn Viết T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự .

Phạt Nguyễn Viết T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2018 đến 30/5/2018.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Viết T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- 8 -

Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo, đại diện hợp pháp người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Cỡ chữ