- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Hoài Th xin ly hôn anh Nguyễn Thanh Đ"
- Tòa quyết gì? [1]. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Hoài Th và anh Nguyễn Thanh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2018/HNGĐ - ST Ngày: 30 - 8 - 2018. V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hùng Phương.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Rạng.
2. Ông Vũ Đức Khang.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện N.
Ngày 30/8/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2018/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2018/QĐXX - ST ngày 27/7/2018 và quết định hoãn phiên toà số: 21/2018/QĐST – HNGĐ ngày 14/8/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hoài Th – Sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ 14, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Đ – Sinh năm 1987. Địa chỉ: Xóm 2, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa có mặt chị Th, vắng mặt anh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện lập ngày 15/5/2018 cũng như lời khai chị Nguyễn Hoài Th tại phiên tòa thể hiện: Chị kết hôn với anh Nguyễn Thanh Đ vào tháng 03/2015 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Ngay sau khi kết hôn vợ chồng đã chung sống không hoà thuận hạnh phúc. Nguyên nhân là do anh Đ ham chơi không quan tâm đến vợ con, dẫn đến vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng. Mặc dù chị Th và gia đình đã nhiều lần động viên khuyên bảo nhưng anh Đ vẫn không thay đổi dẫn đến vợ chồng thường xảy ra xô xát cãi chửi nhau. Đến tháng 07/2017 thì vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh Đ không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Th đề nghị Tòa án nhân dân huyện N xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ.
Về con chung: Chị Nguyễn Hoài Th trình bày giữa chị và anh Đ có một con chung là cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18/4/2016 kể từ khi vợ chồng ly thân con chung hiện đang do chị Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn chị Th xin nhận trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thanh T và yêu cầu anh Đ phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh chị Th mỗi tháng là 1.500.000 đồng kể từ tháng 8/2018 cho đến khi con trưởng thành tự lập được.
Về tài sản chung của vợ chồng chị Th không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí chị Th đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay anh Nguyễn Thanh Đ không có mặt. Lời khai của bà Trần Thị N (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Thanh Đ) tại các buổi làm việc với Tòa án thể hiện; Trong thời gian vừa qua gia đình có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho anh Đ, do anh Đ không có mặt để nhận trực tiếp nên gia đình đã nhận thay và đã thông báo cho anh Đ đầy đủ. Do anh Đ phải đi làm không thể lên tòa để làm việc được anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh và anh có nhờ gia đình ý kiến với Tòa án như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Th xin ly hôn anh, anh Đ nhất trí ly hôn với chị Nguyễn Hoài Th.
Về con chung anh Đ xác định vợ chồng có một con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18/4/2016 . Kể từ khi vợ chồng ly hôn cháu T đang do chị Th chăm sóc nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn theo nguyện vọng của chị Th thì anh nhất trí để chị Th nuôi cháu Nguyễn Thanh T và anh Đ tự nguyện đóng góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị Th mỗi tháng là 1.500.000 đồng kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con trưởng thành tự lập được.
Về tài sản chung anh Định xác định vợ chồng không có tài sản chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên được phân công tham gia giải quyết vụ án có ý kiến: Do Tòa án không tiến hành Th thập chứng cứ vì vậy Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa để xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Nguyễn Thanh Đ cư trú tại huyện N. Nay chị Nguyễn Hoài Th có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Thanh Đ, Tòa án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ là phù hợp với khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Hoài Th và anh Nguyễn Thanh Đ vào tháng 03 năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Ngay sau khi kết hôn vợ chồng đã chung sống không hoà thuận hạnh phúc. Nguyên nhân là do anh Đ ham chơi không quan tâm đến vợ con. Mặc dù chị Th và gia đình đã nhiều lần động viên khuyên bảo nhưng anh Đ vẫn không thay đổi dẫn đến vợ chồng thường xảy ra xô xát cãi chửi nhau. Đến tháng 07/2017 thì vợ chồng anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án nhân dân huyện N giải quyết vợ chồng được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án anh Đ đều vắng mặt nhưng qua làm việc với gia đình anh Đ đã thể hiện quan điểm của anh Đ cũng nhất trí ly hôn với chị Th. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh Đ đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị Th có đơn xin ly hôn anh Đ nên Hội đồng xét xử thấy phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về con chung: Chị Nguyễn Hoài Th và anh Nguyễn Thanh Đ có một con chung là cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18/4/2016 kể từ khi vợ chồng ly thân con chung hiện đang do chị Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Th xin nhận trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và yêu cầu anh Đ phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th mỗi tháng là 1.500.000 đồng kể từ tháng 8/2018 cho đến khi con trưởng thành tự lập được, phía anh Đ cũng nhất trí vì vậy giao con chung cho chị Th tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th mỗi tháng là 1.500.000 đồng kể từ tháng 8/2018 cho đến khi con trưởng thành tự lập được là phù hợp.
Về tài sản chung vợ chồng: Chị Nguyễn Hoài Th và anh Nguyễn Thanh Đ đều thống nhất xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Hoài Th phải nộp theo quy định của pháp luật.
Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Nguyễn Thanh Đ phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[1]. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Hoài Th và anh Nguyễn Thanh Đ.
[2]. Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18/4/2016 cho chị Nguyễn Hoài Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị Th mỗi tháng là 1.500.000 đồng kể từ tháng 8/2018 cho đến khi con trưởng thành tự lập được. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.
[3]. Về án phí:
Chị Nguyễn Hoài Th phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp theo biên lai số BB/2012/06217 ngày 30/5/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, chị Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Thanh Đ phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả Thận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dântỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Các đương sự; - UBND phường N, TP. L, tỉnh Lào Cai; - Lưu văn phòng; HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Hùng Phƣơng |