vanban.org

Bản án 1182/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trình Thị P.

Về quan hệ vợ chồng: Bà Trình Thị P được ly hôn với ông Lê Đình S. (Giấy chứng nhận kết hôn số 127 quyển số 01/2006 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh N cấp cho ông Lê Đình S và bà Trình Thị P không còn giá trị). Về con chung: Bà P trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Nhật P, sinh ngày 12/11/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trình Thị P và ông Lê Đình S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trình Thị P.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1182/2017/HNGĐ - ST.
Ngày: 28/8/2017.
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quốc Hà.

2. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Điệp, Cán bộ Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Nghĩa, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2017 tại Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 463/2017/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 629/2017/QĐST - HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1789/2017/QĐST - HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trình Thị P, sinh năm: 1979 ; Địa chỉ: đường M, Phường T, quận G, Tp. HCM;(Có mặt).

Bị đơn: Ông Lê Đình S, sinh năm: 1978 ; Địa chỉ : đường M, Phường T, quận G, Tp. HCM; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Nguyên đơn, bà Trình Thị P trình bày : Bà và ông S tự nguyện sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh N từ năm 2006. Quá trình sống chung thường xảy ra mâu thuẫn do ông S không tôn trọng vợ con, thường xuyên bạo hành, hay uống rượu, gây áp lực về tinh thần. Cuộc sống ngột ngạt. Hai người đã ly thân nhau. Nay, bà nộp đơn xin ly hôn với ông S. Về con chung: có một con chung tên Lê Nhật P, sinh ngày 12/11/2007. Bà P xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tới tuổi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt theo đúng quy định của pháp luật triệu tập ông S đến Tòa để làm việc, dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông S vẫn vắng mặt nên không ghi được ý kiến của ông.

Tại phiên tòa hôm nay: Bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông S. Ông S được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 và quy định về phiên tòa sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70,71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân dân sự. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định :

[1] Bà Trình Thị P tự nguyện kết hôn với ông Lê Đình S năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh N theo giấy chứng nhận kết hôn số 127 quyển số 01/2006. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được luật hôn nhân và gia đình năm 2014 điều chỉnh. Nay, bà Trình Thị P có yêu cầu ly hôn với ông Lê Đình S, xét yêu cầu của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu ly hôn của bà P cho thấy trong quá trình sống chung giữa bà và ông S cuộc sống chung không có hạnh phúc, do ông S hay đi làm công trình xa, mỗi lần về nhà xảy ra mâu thuẫn. Kết quả là hai bên ly thân từ tháng 3 năm 2017 đến nay cho thấy hôn nhân đã hoàn toàn đổ vỡ, hạnh phúc không thể hàn gắn.

Theo kết quả xác minh tại địa phương thì giữa ông S và bà P thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn do ông S có tính tình nóng nảy, khi uống rượu vào thì xảy ra mâu thuẫn với bà P.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, ông S không đến Tòa án để trình bày ý kiến và hòa giải chứng tỏ ông cũng không còn quan tâm đến cuộc sống chung, vợ chồng không có sự quan tâm chia sẽ gắn bó lẫn nhau. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho bà P được ly hôn với ông S.

Về con chung: Bà P và ông S có một con chung tên Lê Nhật P, sinh ngày 12/11/2007, bà P có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, ông S thường xuyên đi công trình xa, hiện cháu P đang được bà P chăm sóc và cháu cũng có nguyện vọng được ở cùng mẹ nên Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Lê Nhật P cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà P không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung : Bà P khai không có, không yêu cầu Tòa án để giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn, bà P chịu án phí hôn nhân sơ thẩm số tiền là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008. Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trình Thị P.

Về quan hệ vợ chồng: Bà Trình Thị P được ly hôn với ông Lê Đình S. (Giấy chứng nhận kết hôn số 127 quyển số 01/2006 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh N cấp cho ông Lê Đình S và bà Trình Thị P không còn giá trị).

Về con chung: Bà P trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Nhật P, sinh ngày 12/11/2007 cho đến tuổi trưởng thành. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho ông S do bà P không có yêu cầu.

Ông S có quyền thăm nom con, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con; Yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà P chịu án phí hôn nhân sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2016/0018204 ngày 07/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Bà P có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông S vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ