- Tranh chấp gì? "Bùi Bảo L"
- Căn cứ chính? Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. |
túy, tính đến thời điểm Tòa án mở phiên họp là trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Chị Bùi Bảo Ly là người nghiện ma túy, trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính. Chị Ly chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có nơi cư trú ổn định. Chị Ly có đơn không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện thay thế. Do đó, chị Ly thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: Chị Ly không có tình tiết tăng nặng và có tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi theo khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; nhân thân không có tiền án, tiền sự; nhận thức được hành vi của mình là sai, lấy đó làm căn cứ giảm một phần thời gian cai nghiện bắt buộc cho chị Ly để chị Ly sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Từ những căn cứ trên, thấy đề nghị của Công an phường Bồ Đề và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 3, 6, 9, 10, 95, 96, 105, 107 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy;
Căn cứ các Điều: 40, 41, 42 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Các Điều: 7, 8, 11 của Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Các Điều: 3, 20, 21, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ