vanban.org

Bản án 118/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Văn C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn C 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 17/9/2025 Xử lý vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy: 01 mảnh giấy mầu trắng kích thước 03 cm x 03 cm và 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa mầu xanh bên trên bề mặt có in dòng chữ " thống nh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn C - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 -LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2025/HS-ST
Ngày: 29-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Tuấn Sỹ;

Bà Phạm Thị Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Trang- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 114/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025, đối với:

Bị cáo Hà Văn C. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 06/6/1978, tại tỉnh Lạng Sơn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn N, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân: 020078011409; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; con ông: Hà Văn T (đã chết) và bà Lăng Thị L; Vợ Ngô Thị H; con: có 01 con sinh năm 2010: không; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là thứ hai; Tiền án: không; Tiền sự: 01 tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 06/2023/QĐ-TA ngày 20/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện C,cũ, (đã chấp hành xong ngày 02/02/2025) (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính); nhân thân Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 160/QĐ- XPVPHC ngày 16/7/2018, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã được xóa. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2025 đến nay, có mặt.

Người làm chứng: Anh Hoàng Văn V, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hà Văn C, là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 13/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (nay là xã Đ), tỉnh Lạng Sơn.

Hồi 07 giờ 00 phút ngày 17/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn triệu tập Hà Văn C để kiểm tra chất ma túy trong nước tiểu, kết quả Hà Văn C dương tính với chất ma túy.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Hà Văn C, cơ quan điều tra thu giữ 01 mảnh giấy màu trắng kích thước (03x03)cm bên trên bám dính chất bột màu trắng; 01 bật lửa ga bằng nhựa, màu xanh in dòng chữ “THONG NHAT” (các kết luận giám định số 799/KL-KTHS ngày 21/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn đã kết luận tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu nước tiểu gửi giám định thu giữ của Hà Văn C.

Kết luận giám định số 803/KL-KTHS ngày 22/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt mảnh giấy được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ghi chữ “Khám xét chỗ ở của Hà Văn C ngày 17/9/2025” gửi giám định là chất ma túy Heroin, mẫu vật gửi giám định không đủ để xác định được khối lượng.

Tại cơ quan điều tra, Hà Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Hà Văn C khai nhận khoảng 18 giờ ngày 16/9/2025, Hà Văn C đi bộ từ nhà mình đến nhà của Hoàng Văn V, ở cùng thôn để mua ma túy Heroin. Khi đến nơi, Hoàng Văn V đưa Hà Văn C đi cách nhà 60 mét, đưa 01 gói ma túy được bọc bằng giấy màu trắng, kích thước (03x03)cm, Hà Văn C cất gói ma túy vào túi quần đang mặc, trả cho Hoàng Văn V 200.000 đồng rồi đi về nhà. Đến 19 giờ 30 phút, Hà Văn C ngồi tại bàn uống nước ở nhà, lấy giấy bạc, đổ ma túy vừa mua lên giấy rồi dùng bật lửa ga đun nóng ma túy thành khói để hít. Hà Văn C đã hít hết số ma túy đã mua được rồi vứt tờ giấy bạc đi. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn triệu tập Hà Văn C để kiểm tra chất ma túy trong nước tiểu, kết quả Hà Văn C dương tính với chất ma túy

Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 30/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hà Văn C về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Văn C phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự

Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn C từ 02 (hai) năm đến 02 (hai ) năm 06 (sáu) tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu để tiêu hủy 01 mảnh giấy màu trắng kích thước (03x03)cm bên trên bám dính chất bột màu trắng; 01 bật lửa ga bằng nhựa, màu xanh in dòng chữ “THONG NHAT”; Áp dụng khoản 2 Điều 136, bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016, Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 Lạng Sơn.

Lời nói sau cùng, bị cáo có ý kiến: Bị cáo đã biết sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến ông Hoàng Văn V, ông Vương đã có lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt ông Hoàng Văn V do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Hoàng Văn V theo quy định tại các Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản lời khai, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, các lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Hà Văn C là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện theo quyết định quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú số 13/QĐ- UBND ngày 24/01/2025 của UBND xã T, huyện C. Tuy nhiên ngày 16/9/2025 Hà Văn C mua ta túy Heroin với Hoàng Văn V mang về nhà tại thôn N, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn sử dụng bằng hình thức hít. Kết quả giám định nước tiểu của Hà Văn C có chất ma túy Morphine. Khi thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị cáo Hà Văn C có đầy đủ năng lực hành vi, do vậy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo Hà Văn C là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết tội bị cáo Hà Văn C phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân và tạo tiền đề cho các hành vi phạm tội khác, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, vì vậy đối với hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tiền án, tiền sự: Tiền sự: bị cáo có 01 tiền sự. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 06/2023/QĐ-TA ngày 20/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện C (đã chấp hành xong ngày 02/02/2025) (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính); nhân thân Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 160/QĐ- XPVPHC ngày 16/7/2018, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã được xóa; Bị cáo sử dụng chất ma túy nên xác định bị cáo có nhân thân không tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo thờ cúng liệt sỹ, trình độ học vấn thấp nên phần nào ảnh hưởng đến nhận thức pháp luật của bị cáo do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 mảnh giấy mầu trắng kích thước 03 cm x 03 cm và 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa mầu xanh bên trên bề mặt có in dòng chữ " thống nhất" là vật liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông tên Hoàng Văn V mà Hà Văn C khai đã mua ma túy với Hoàng Văn V, công an đã tiến hành xác minh, đối chất giữa Hà Văn C và Hoàng Văn V, Hoàng Văn V khai không được bán ma túy cho Hà Văn C, ngoài lời khai ra không có chứng cứ nào khác chứng minh việc Hoàng Văn V bán ma túy cho Hà Văn C. Do vậy không có căn cứ xử lý đối với Hoàng Văn V. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 Lạng Sơn tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 50, Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 106; khoản 2 Điều 136; các Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Tuyên bố bị cáo Hà Văn C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn C 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 17/9/2025

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy: 01 mảnh giấy mầu trắng kích thước 03 cm x 03 cm và 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa mầu xanh bên trên bề mặt có in dòng chữ " thống nhất"( Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 12 năm 2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn và phòng Thi hành án dân sự 1 Lạng Sơn).

4. Về án phí: Bị cáo Hà Văn C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ