vanban.org

Bản án 118/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 05/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Minh Q. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 229/2025/HS-ST ngày 04/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa (nay là Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Thanh Hoá) theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạ…

Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Lê Minh Q 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Minh Q. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 229/2025/HS-ST ngày 04/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa (nay là Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Thanh Hoá) theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạ…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2025/HS-PT
Ngày: 05/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nga

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đại Long, Bà Hoàng Thị Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 178/2025/TLPT-HS ngày 10/7/2025 đối với bị cáo Lê Minh Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 229/2025/HS-ST ngày 04/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa; (nay là Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Thanh Hoá).

- Bị cáo kháng cáo: Lê Minh Q, sinh ngày 14/5/2006 tại Thanh Hóa; số CCCD: 038206008343; nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay là phường Đ, tỉnh Thanh Hóa); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: không xác định, con bà Lê Thị T; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 15/4/2023 bị Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” (đã nộp phạt xong); tạm giữ: 04/12/2024; tạm giam: 10/12/2024; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 30 phút ngày 03/12/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ tại trước cổng đền P, ngõ T, đường T thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa phát hiện Lê Minh Q có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy, tiến hành kiểm tra thu giữ 01 gói khẩu trang màu trắng, bên trong đựng 01 túi zip nilon màu trắng, viền đỏ chứa 10 viên nén màu xám; 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu trắng xanh BKS 36B7-547.00; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 mini, màu trắng xanh. Nguồn gốc số ma túy trên Q khai nhận: đầu tháng 12/2024 qua ứng dụng Telegram, Q làm quen với một người tên L (Q không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể). Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/12/2024, Q liên hệ với L hỏi mua 10 viên ma túy thuốc lắc, L báo giá là 250.000đ/01 viên. Sau khi thống nhất việc mua bán L hẹn Q sẽ giao ma túy tại khu vực mặt bằng dân cư gần đường 39m, thuộc phường Đ, thành phố T. Tại đây, Q gặp một người đàn ông đeo khẩu trang, đi xe máy nhãn hiệu Wave màu đen (Q không nhớ mặt và biển số xe) người này đưa cho Q 01 gói khẩu trang, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng chứa 10 viên ma túy.

Sau khi mua được ma tuý, Q điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu bạc, biển kiểm soát 36B7-54700 đi đến đoạn trước cổng đền P, ngõ T, đường T, phường T, thành phố T với mục đích tìm người bán để kiếm lời thì thì bị công an phát hiện, bắt quả tang.

Kết luận giám định số 4656/KL-KTHS ngày 06/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận: 10 viên nén màu xám có tổng khối lượng 4,791g là ma túy, loại MDMA.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 229/2025/HS-ST ngày 04/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa, (nay là Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Thanh Hoá), đã quyết định:

- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Xử phạt: bị cáo Lê Minh Q 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 04/12/2024.

- Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/6/2025, bị cáo kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Lê Minh Q khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản án sơ thẩm, đồng thời giữ nguyên kháng cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt với lý do hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định là nặng đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và đề nghị:

- Đơn kháng cáo nộp trong thời hạn luật định, tại cấp phúc thẩm, bị cáo Lê Minh Q giao nộp thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Q, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 229/2025/HS-ST ngày 04/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa (nay là Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Thanh Hoá), theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, nhận thức được lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm theo đúng quy định tại Điều 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, một lần nữa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên, thể hiện: Hồi 23 giờ 30 phút ngày 03/12/2024, tại trước cổng đền P, ngõ T, đường T thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Lê Minh Q đã mua 10 viên ma túy có tổng khối lượng 4,791gam, loại MDMA, cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.

Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Minh Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy", theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác.

Xét kháng cáo của bị cáo: Bị cáo Lê Minh Q mua 10 viên ma túy có tổng khối lượng 4,791gam, loại MDMA, để bán kiếm lời nhưng chưa bán được thì bị bắt quả tang. Xét thấy, bị cáo lần đầu phạm tội, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, Toà án sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, là có phần nghiêm khắc. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo có ông, bà ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến; năm 2024 bị cáo tham gia ủng hộ tặng quà làng trẻ SOS; gia đình bị cáo rất hoàn cảnh, bị cáo không có bố, từ nhỏ đã ở với ông bà ngoại, mẹ bị cáo vì vất vả mưu sinh nên có ít thời gian chăm sóc, giáo dục bị cáo (có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố). Do vậy, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại cấp sơ thẩm và có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt như đề nghị của đại diện VKS tại phiên toà phúc thẩm là có căn cứ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Minh Q. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 229/2025/HS-ST ngày 04/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa (nay là Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Thanh Hoá) theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh Q 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/12/2024.

2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ