vanban.org

Bản án 118/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 20/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Xử phạt Phạm Văn N 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/03/2024. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Phạm Văn N Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Đối; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Áp dụng Nghị; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự - Áp dụng Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số:118/2024/HSST
Ngày: 20/06/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ- TP HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thành và bà Trương Thị Thái

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa- Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 06 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 28/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/QĐXXST- HS ngày 04/06/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn N, sinh năm 1982; ĐKNKTT và chỗ ở: Đội X, xã Tả T, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Họ và tên bố: Phạm Văn Nức; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T; Vợ: Đỗ Thị O, có 02 con: lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007

Theo danh chỉ bản số 199 ngày 29/03/2024 của Công an huyện Thanh Trì lập và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự

Nhân thân:

- Năm 2008, cai nghiện bắt buộc tại trung tâm số 5 Xuân Phương, Nam Từ Liêm, Hà Nội (Đã hết thời hiệu)

- Năm 2013, cai nghiện bắt buộc tại trung tâm số 4 Yên Bài, Ba Vì, Hà Nội (Đã hết thời hiệu)

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/03/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an TP. Hà Nội

(Có mặt tại phiên toà)

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 05’ ngày 22/03/2024, tổ công tác Công an xã Tả Thanh Oai làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực ngõ 11, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội phát hiện Phạm Văn N có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, N tự nguyện nộp 01 gói giấy bạc bên trong có chứa cất bột màu trắng. Tại chỗ, N khai nhận chất bột màu trắng đó là ma túy loại Heroin vừa mua để sử dụng cho bản thân nên tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong, tạm giữ tang vật và đưa N về trụ sở để điều tra làm rõ.

Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Phạm Văn N ngày 22/03/2024: Dương tính với ma túy MOP

Tại Kết luận giám định số 2299/KL- KTHS ngày 31/03/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,131 gam.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn N khai nhận: Khoảng 09 giờ 30’ ngày 22/03/2024, N đi bộ từ nhà đến khu vực đường sắt ở Đội 4, xã Tả Thanh Oai để tìm mua ma túy Heroin về sử dụng. Tại đây, N gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy heroin với giá 200.000 đồng. Sau đó N cất giấu gói ma túy trong túi áo bên trái và đi bộ tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Tả Thanh Oai bắt giữ cùng tang vật.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho N, N khai không biết tên, tuổi, địa chỉ do đó Cơ quan điều tra- Công an huyện Thanh Trì không có căn cứ điều tra làm rõ.

Tại bản cáo trạng số 116/CT- VKS-TT ngày 27/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo Phạm Văn N về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

- Bị cáo Phạm Văn N thành khẩn khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và không kêu oan, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Thanh Trì duy trì công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đề nghị như sau:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt Phạm Văn N mức án từ 16 tháng đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/03/2024

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo N

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT- Công an huyện Thanh Trì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn N tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, phù hợp với bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 05’ ngày 22/03/2024, Tổ công tác Công an xã Tả Thanh Oai làm nhiệm vụ tại khu vực ngõ 11, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội phát hiện bắt quả tang Phạm Văn N có hành vi tàng trữ phép 0,131 gam Heroin với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo Phạm Văn N đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Phạm Văn N với tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, tiếp tay cho các đối tượng mua bán ma tuý, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác.

Xét nhân thân bị cáo có 02 tiền sự: Năm 2008 và năm 2013, bị đi cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Các tiền sự này đã hết thời hiệu nhưng điều đó chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn phạm tội do đó cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và đấu tranh phòng ngừa chung.

. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Phạm Văn N.

. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Đối với 0,109 gam Heroin còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt Phạm Văn N 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/03/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Phạm Văn N

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định là 0,109 gam Heroin theo Biên bản giao nhận giữa Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Trì và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì ngày 12/06/2024.

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí HSST

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ