- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giang A L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Giàng A L 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/12/2023 .
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:118/2024/HS-ST Ngày: 20 - 5 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Văn Bảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Hải
Ông Hoàng Văn Tấn
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Ánh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 20/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Băc Giang, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2024/HS-ST ngày 04/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:
1. Giàng A L, sinh năm 1977; Tên gọi khác; Không; Giới tính: Nam
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú : Bản Nậm K, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: H’Mông; Tôn giáo: không. Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12.
Con ông: Giàng A D (đã chết); con bà: Thào Thị B, sinh năm 1946; bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai; vợ: Thào Thị C, sinh năm 1978 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 1995.
Tiền án:
+ Tại Bản án số 93/HSST ngày 25/5/1998 của Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 14 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/5/2008.
+ Tại Bản án số 77/2011/HSST ngày 28/6/2011 của Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (phạm tội ngày 10/01/2011), đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/7/2023.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- Người làm chứng;
1. Anh Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1991 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố My Điền, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ ngày 20/12/2023, tại đoạn đường giao thông thuộc tổ dân phố Ninh Khánh, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên (nay là phường Nếnh, thị xã Việt Yên), tỉnh Bắc Giang, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên (nay là phường Nếnh, thị xã Việt Yên) phát hiện, bắt quả tang Giàng A L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm: thu tại túi áo phía trước bên phải của Giàng A L đang mặc 01 gói nilon màu đen bên trong có 32 gói nilon màu hồng, bên trong mỗi gói nilon màu hồng đều chứa chất cục bột màu trắng (L khai là ma túy Heroine) được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”. Ngoài ra còn tạm giữ của Giàng A L: 01 căn cước công dân mang tên Giàng A L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, lắp sim số 0329.848.201 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT L”; 01 túi vải dạng thổ cẩm, bên trong đựng: 01 túi vải màu đen, bên trong túi có 01 sợi dây kim loại màu vàng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “DÂY CHUYỀN L” và 01 thông báo số định danh của L, số tiền 1.850.000 đồng.
Sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra việc sử dụng ma túy của L bằng que tes Amvi, kết quả L dương tính với chất ma tuý Mor.
Ngày 20/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định vật chứng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”.
Tại Kết luận giám định số 2563/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 32 (ba mươi hai) gói nilon màu hồng được hàn kín, được đựng trong 01 (một) gói nilon màu đen là ma túy, có tổng khối lượng 1,885 gam, loại Heroine (Heroin)”
Ngày 05/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang bàn giao hồ sơ vụ án cùng vật chứng có liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên (nay là thị xã Việt Yên) để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, bị can Giàng A L khai nhận: L là người nghiện ma túy. Khoảng giữa 12/2023, L đến sống lang thang tại huyện Việt Yên (nay là thị xã Việt Yên), tỉnh Bắc Giang để tìm việc làm. Khoảng 20 giờ ngày 19/12/2023, L đi bộ đến khu vực gầm cầu Quang Châu thuộc đại phận xã Quang Châu, huyện Việt Yên (nay là phường Quang Châu, thị xã Việt Yên), tỉnh Bắc Giang mua của người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy Heroine dạng chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu đen với giá 2.000.000 đồng để sử dụng dần. L cầm gói ma tuý vừa mua được nêu trên đi bộ về hầm chui qua đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang thuộc địa xã Quang Châu, huyện Việt Yên (nay là phường Quang Châu, thị xã Việt Yên), tỉnh Bắc chia nhỏ số ma tuý ra thành nhiều phần khác nhau để tiện sử dụng. Tại đây, L chia nhỏ số ma tuý làm 32 phần rồi gói vào 32 mảnh nilon màu hồng thành các gói ma túy khác nhau, phần còn lại (gọi là vụn ma túy) vẫn để trong gói nilon màu đen. Sau đó, L để lại toàn bộ 32 gói ma túy trên vào 01 gói nilon màu đen ban đầu rồi cất giấu trong túi áo phía trước bên phải L đang mặc. Khoảng 09 giờ ngày 20/12/2023, L đi bộ đến khu vực hầm chui qua đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang đoạn thuộc tổ dân phố Ninh Khánh, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên (nay là phường Nếnh, thị xã Việt Yên), tỉnh Bắc Giang bỏ số vụn ma tuý còn thừa trước đó ra sử dụng. Khoảng 14 giờ cùng ngày 20/12/2023, L mang theo 32 gói ma túy còn lại chưa sử dụng hết, vẫn cất giấu trước đó trong túi áo phía trước bên phải đang mặc đi đến đoạn đường giao thông thuộc địa phận tổ dân phố Ninh Khánh, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên (nay là phường Nếnh, thị xã Việt Yên), tỉnh Bắc Giang thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ và thu giữ toàn bộ số ma túy cùng tài sản, đồ vật có liên quan như nêu trên.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của L ngày 20/12/2023, Công an thị xã Việt Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định pháp luật.
Đối với người bán ma túy cho L, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được là ai nên tách ra để tiếp tục điều tra và đề nghị xử lý sau.
Kết quả điều tra xác định: tiền, điện thoại di động, túi vải, sợi dây kim loại và giấy tờ tùy thân mang tên L thu giữ khi lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang là của L nhưng không dùng vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng toàn bộ tài sản, giấy tờ nêu trên cùng với số ma túy còn lại sau khi giám định để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố Giàng A L phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Giàng A L vẫn từ chối luật sư trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo; bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đã đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015; xử phạt bị cáo từ 6 năm 6 tháng đến 7 năm tù ; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo L. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 293 của BLTTHS tiếp tục xét xử vụ án.
Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên là đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Khoảng 14 giờ ngày 20/12/2023, tại đoạn đường giao thông thuộc địa phận tổ dân phố Ninh Khánh, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên (nay là phường Nếnh, thị xã Việt Yên), tỉnh Bắc Giang; Giàng A L đang tàng trữ trái phép trong người 32 gói ma túy Heroine, có tổng khối lượng 1,885 gam mua trước đó, với mục đích để sử dụng dần thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên (nay là phường Nếnh, thị xã Việt Yên) phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy trên cùng đồ vật có liên quan. Bị cáo L đã bị tái phạm nguy hiểm tại Bản án số 77/2011/HSST ngày 28/6/2011 của Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chưa được xóa án . Nay bị cáo L lại phạm tội mới là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng năng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 của Bộ luật hình sự
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo đã bị Tòa án xử phạt tù nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để sửa chữa, nay lại phạm tội mới. Do vậy cần thiết phải bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong tình hình hiện nay. Do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Giàng A L và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ theo luật và được chấp nhận.
Phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Cần tịch thu tiêu hủy lượng ma túy trong 01 phong bì ký hiệu “QT” bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định. Tịch thu tiêu hủy 01 túi vải màu đen, 01 túi vải dạng thổ cẩm và 01 giấy thông báo số định danh Giàng A L vì đều không còn giá trị.
- Trả lại bị cáo L 01 phong bì ký hiệu “ĐT L” bên trong chứa01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có sim số 0329.848.201, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Giàng A L, 01 phong bì ký hiệu “Tiền L” bên trong có số tiền 1.850.000 đồng và 01 phong bì ký hiệu “DC L” bên trong có 01 phong bì ký hiệu “Dây chuyền L” trong có 01 sợi dây kim loại màu vàng.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo L thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí . Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS
- Xử phạt Giàng A L 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/12/2023 .
2. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu “QT” bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định. Tịch thu tiêu hủy 01 túi vải màu đen, 01 túi vải dạng thổ cẩm và 01 giấy thông báo số định danh Giàng A L.
- Trả lại bị cáo L 01 phong bì ký hiệu “ĐT L” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có sim số 0329.848.201, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Giàng A L, 01 phong bì ký hiệu “Tiền L” bên trong có số tiền 1.850.000 đồng và 01 phong bì ký hiệu “DC L” bên trong có 01 phong bì ký hiệu “Dây chuyền L” trong có 01 sợi dây kim loại màu vàng.
-Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí.
Bị cáo Giàng A L không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh BG - VKSND thị xã Việt Yên; - Công an thị xã Việt Yên; - Bị cáo; - Chi cục THADS thị xã Việt Yên; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Bảo |