- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn Quý, Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Thanh Quang, Nguyễn Văn Chính phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118 /2023/HS-ST Ngày: 28/6/2023 Nh©n danh |
NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Duy Tuyên
2. Ông Nguyễn Văn Vĩ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2023/TLST-HS ngày 07/6/2023; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2023/QĐXXST-HS ngày 13/6/2023, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Dƣơng Văn Q; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1983, tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn Xuân Dục, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Bố: Dương Văn Trọng, sinh năm 1945 (Đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Sửu, sinh năm 1948 (Đã chết); Anh, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị Mỵ, sinh năm: 1987; Con: có 03 con (con lớn nhất SN 2007, con nhỏ nhất SN 2022); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2023 đến ngày 31/3/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Họ và tên: Trần Ngọc Á; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1984 tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Nơi cư trú: thôn Xuân Dục, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ trước khi phạm tội
1
(Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Bố: Trần Ngọc Luân, sinh năm 1942 (còn sống); Mẹ: Nguyễn Thị Phả, sinh năm 1955 (còn sống); Anh, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 03 anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị Minh Trang, sinh năm 1987; Con: có 02 con (con lớn SN 2009, con nhỏ SN 2013); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: + Bản án số 106 ngày 25/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử Trần Ngọc Ánh về tội Đánh bạc, xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 17 tháng 12 ngày (đã được xóa án tích). + Bản án số 93 ngày 06/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử Trần Ngọc Ánh về tội Đánh bạc, xử phạt 18 tháng tù (đã được xóa án tích). Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2023 đến nay, tại Trại tạm giam số 1 - Công an TP Hà Nội. 3. Họ và tên: Nguyễn Thanh Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1970, tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn Yên Tàng, xã Bắc Phú, huyện Sóc Sơn, Hà Nội;Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Bố: Nguyễn Xuân Lai, sinh năm 1935 (đã chết); Mẹ: Ngô Thị Chất, sinh năm 1936 (còn sống); Anh, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Ngô Thị Thành, sinh năm 1971; Con: có 02 con (con lớn nhất SN 1988, con nhỏ nhất SN 1990); Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 85/2007/HSST ngày 28/8/2007 của TAND huyện Sóc Sơn, xử phạt Quang 08 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích). Tiền án: Bản án số 50 ngày 21/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt Quang 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Đánh bạc. Lần phạm tội này của bị cáo đang trong thời gian chấp hành thời gian thử thách, thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2023 tại Trại tạm giam số 1
- Công an TP Hà Nội. 4. Họ và tên: Nguyễn Văn C; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1971 tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 4, thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; Sinh hoạt tại Chi bộ 4, thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số 149-QĐ/UBKTHU ngày 15/6/2023
2
của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Sóc Sơn; Bố: Nguyễn Văn Cận, sinh năm 1932 (còn sống); Mẹ: Nguyễn Thị Quỳ (đã chết); Anh, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ sáu; Vợ: Nguyễn Thúy Khanh, sinh năm 1971; Con: có 03 con (con lớn nhất SN 1996, con nhỏ nhất SN 2007);
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2023 đến ngày 31/3/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 24/3/2023, Công an xã Tân Minh bắt quả tang tại tầng 2 nhà Dương Văn Quý, sinh năm 1983 ở thôn Xuân Dục, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn đang có các đối tượng Nguyễn Thanh Quang, sinh năm 1970 ở thôn Yên Tàng, xã Bắc Phú, huyện Sóc Sơn; Trần Ngọc Ánh sinh năm 1984, ở thôn Xuân Dục, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn và Nguyễn Văn Chính sinh năm 1971 ở Tổ 4, thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn và Quý đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm, sát phạt nhau bằng tiền. Các đối tượng Lê Thị Quê, sinh năm 1985, trú tại thôn Bắc Vọng, xã Bắc Phú, huyện Sóc Sơn; Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1983, trú tại thôn Vệ Sơn Đông, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn; Nguyễn Văn Hường, sinh năm 1970, trú tại thôn Xuân Dục, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn đang ngồi xem 04 đối tượng trên đánh bạc. Khi kiểm tra bắt giữ đã thu giữ trên chiếu bạc số tiền 11.450.000 đồng. Sau đó, Công an xã Tân Minh tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở Công an để tiếp tục xử lý.
Quá trình điều tra làm rõ:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, các đối tượng Quang, Ánh, Chính đến nhà Quý chơi. Tại đây, Quý rủ các đối tượng đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm, các đối tượng đồng ý. Quý lấy bài để chơi cùng mọi người, thảm đã được trải sẵn trên sàn nhà từ trước. Ngồi bên phải Quý là Chính, bên trái Quý là Ánh, đối diện Quý là Quang. Quá trình tham gia đánh bạc, mọi người tự quy định cách thức chơi và mức tiền thắng-thua như sau: sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, một ván thì chia cho 03 người 09 lá bài, 01 người 10 lá bài, phần bài còn lại đặt vào giữa để mỗi người chơi đến lượt sẽ được bốc thêm 01 lá/01 lượt đánh. Người được chia 10 lá bài sẽ đánh đầu tiên cho người ngồi bên cạnh, lần lượt theo vòng. Quy ước thắng, thua mỗi ván theo tỉ lệ lần lượt 50.000 đồng; 100.000 đồng và 150.000 đồng, cụ thể 04 người chơi sẽ so điểm với nhau, ai ít điểm nhất sẽ là người thắng; người ít điểm thứ 2 trả cho người thắng 50.000 đồng; người ít điểm thứ 3 trả cho người thắng số tiền 100.000 đồng; người cao
3
điểm nhất (hay còn gọi là bét) trả cho người thắng số tiền 150.000 đồng. Đối với người đánh hết toàn bộ bài (hay còn gọi là bài ù) thì 03 người còn lại sẽ phải trả cho người bài ù số tiền 200.000 đồng/người, người được ù sẽ tự nguyện để số tiền 50.000 đồng vào trong hộp kim loại màu đỏ để cho Quý mua nước uống. Người nào không đánh được lá bài nào (hay còn gọi là bài móm) thì sẽ phải trả cho người thắng số tiền 200.000 đồng. Người nào bị mất lá bài chốt thì phải trả cho người được lá bài chốt số tiền 200.000 đồng. Số tiền các bị cáo sử dụng để tham gia đánh bạc cụ thể như sau: Dương Văn Quý 3.800.000 đồng; Trần Ngọc Ánh 3.400.000 đồng; Nguyễn Thanh Quang 2.250.000 đồng; Nguyễn Văn Chính 2.000.000 đồng. Tổng số tiền các đối tƣợng sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 11.450.000 đồng. Vật chứng thu giữ: 01 tấm thảm hình chữ nhật màu đỏ kích thước khoảng 5x2,5m; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây; 01 hộp kim loại màu đỏ; số tiền 11.450.000 đồng đã tạm giữ của các bị can liên quan đến hành vi phạm tội, cần tiếp tục tạm giữ để phục vụ xét xử và thi hành án. Đối với Lê Thị Quê, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Hường, quá trình điều tra xác định Quê, Tài, Hường chỉ ngồi xem, không tham gia đánh bạc nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện Sóc Sơn không xem xét xử lý là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, các bị cáo Dương Văn Quý, Nguyễn Thanh Quang, Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Văn Chính đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Tại bản cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Xử phạt: 1. Bị cáo Nguyễn Thanh Quang 9 đến 12 tháng tù. Buộc bị cáo Quang phải chấp hành hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo sang 12 tháng tù giam theo Bản án hình sự sơ thẩm số 50 ngày 21/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Tổng hợp hình phạt bị cáo Quang phải chấp hành từ 21 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/12/2020 đến ngày 31/12/2020 của Bản án hình sự sơ thẩm số 50 ngày 21/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. 2. Bị cáo Trần Ngọc Ánh từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023. 3. Bị cáo Dương Văn Quý từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
4
4. Bị cáo Nguyễn Văn Chính phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Về vật chứng: 01 tấm thảm hình chữ nhật màu đỏ kích thước khoảng 5x2,5m; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây; 01 hộp kim loại màu đỏ cho tịch thu tiêu hủy. Số tiền 11.450.000 đồng tịch thu sung công.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 24/3/2023, tại nhà Dương Văn Quý ở thôn Xuân Dục, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Công an xã Tân Minh bắt quả tang Dương Văn Quý, Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Thanh Quang, Nguyễn Văn Chính có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm, sát phạt nhau bằng tiền. Tổng số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc là 11.450.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo đã phạm vào tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[4] Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi nên đã cố ý thực hiện tội phạm.
Các bị cáo đến nhà bị cáo Quý chơi rồi cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm. Quý lấy bài để chơi cùng mọi người, thảm đã được trải sẵn trên sàn
5
nhà từ trước. Ngồi bên phải Quý là Chính, bên trái Quý là Ánh, đối diện Quý là Quang. Hành vi đánh bạc của các bị cáo là tự phát, không có sự phân công, bàn bạc cụ thể nên không phải là phạm tội có tổ chức. [5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Ánh, Quý, Chính không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50 ngày 21/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Quang 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Đánh bạc. Bị cáo Quang phạm tội lần này là phạm tội trong thời gian thử thách. Cho nên, ngoài hình phạt mới, bị cáo Quang phải tổng hợp 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo sang án tù giam cộng với án phạt tù mới, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/12/2020 đến ngày 31/12/2020. Bị cáo Quang phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Ánh, Quang được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Ánh có bố là ông Trần Ngọc Luân, mẹ là bà Nguyễn Thị Phả đều được hưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Quý được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Chính có ông ngoại là Nguyễn Bình Khẩn được hưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Ánh có nhân thân xấu, đã bị đưa ra xét xử vào các năm 2013 và 2016, nên phải có hình phạt tù giam đối với bị cáo Ánh để răn đe và phòng ngừa chung. Từ những phân tích đánh giá nêu trên nhận thấy: Đối với bị cáo Quý phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc không lớn và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do đó xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Quý ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo Quý được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo Quý trở thành người công dân có ích cho xã hội. Bị cáo Chính trong thời gian công tác tại Trung tâm, giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên Sóc Sơn từ năm 1993 đến nay luôn thực hiện tốt nội quy, quy chế của Trung tâm, hoàn thành tốt công việc được giao, không có vi phạm gì. Bị cáo Chính có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Chính phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng,
6
số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc không lớn và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do đó phạt tiền đối với bị cáo Chính cũng có tác dụng giáo dục và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên Cơ quan điều tra xác minh, các bị cáo đều có mức thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng: 01 tấm thảm hình chữ nhật màu đỏ kích thước khoảng 5x2,5m; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây; 01 hộp kim loại màu đỏ cho tịch thu tiêu hủy. Số tiền 11.450.000 đồng tịch thu sung công.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn Quý, Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Thanh Quang, Nguyễn Văn Chính phạm tội “Đánh bạc”.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (đối với bị cáo Q);
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh Q 09 tháng tù. Buộc bị cáo Quang phải chấp hành hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo sang 12 tháng tù giam theo Bản án hình sự sơ thẩm số 50 ngày 21/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Tổng hợp hình phạt bị cáo Quang phải chấp hành từ 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/12/2020 đến ngày 31/12/2020 của Bản án hình sự sơ thẩm số 50 ngày 21/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
3. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, (thiếu khoản 2) Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (đối với bị cáo Á);
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc Á 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023.
4. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (đối với bị cáo Q);
Xử phạt: Bị cáo Dương Văn Q 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Quý về Uỷ ban nhân dân xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
7
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. 5. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự 2015 (đối với bị cáo C); Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C số tiền 20.000.000 đồng. 6. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- 01 tấm thảm hình chữ nhật màu đỏ kích thước khoảng 5x2,5m; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây; 01 hộp kim loại màu đỏ cho tịch thu tiêu hủy. Số tiền 11.450.000 đồng tịch thu sung công. Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. 7. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sơ thẩm. 8. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Sóc Sơn; - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. 8 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA TRẦN NGỌC HÕA |