- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Kiều Nương - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Kiều N, Trương Thị Thanh H, Trương Văn S phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2023/HS-ST. Ngày: 07-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tấn Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Sâm Châu.
Ông Nguyễn Văn Ba.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 đối với:
1. Bị cáo Nguyễn Thị Kiều N, sinh năm 1986 tại tỉnh An Giang.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ 05, ấp Bình Lâm, xã LA, huyện LT, tỉnh ĐN. Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: Lớp 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Duy L, sinh năm 1952 (chết) và bà Phạm Thị Ph, sinh năm 1956 (còn sống); Gia đình có 04 chị em, bị cáo thứ 04 trong gia đình; Chồng Phạm Minh K, sinh năm 1985 và có 04 con chung, con lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cứ trú tại xã LA, huyện LT, tỉnh ĐN (có mặt).
2. Bị cáo Trương Thị Thanh H, sinh năm 1971 tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ 07, ấp Bình Lâm, xã LA, huyện LT, tỉnh ĐN. Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trương Văn Th (chết) và bà Nguyễn Thị Ng (chết); Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02; Chồng: Sống như vợ chồng với ông Huỳnh Tuấn Kh, sinh năm 1972 (không đăng ký kết hôn); sau đó sống chung như vợ chồng với ông Nguyễn Phát V, sinh năm 1972 (không đăng ký kết hôn) và có 03 con chung, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2001 (gồm 01 con chung với ông Khải, 01 con chung với ông Vvà 01 người con không rõ tên cha).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cứ trú tại xã LA, huyện LT, tỉnh ĐN (có mặt).
3. Bị cáo Trương Văn S; sinh năm 1983 tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ 08, ấp Bình Lâm, xã LA, huyện LT, tỉnh ĐN. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: Lớp 03/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trương Văn B (không rõ ở đâu) và bà Lê Thị C, sinh năm 1956; Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ 4; Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cứ trú tại xã LA, huyện LT, tỉnh ĐN (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 15 giờ 30 phút ngày 25/02/2022, tại ấp Bình Lâm, xã LA, huyện LT, Công an huyện Long Thành phối hợp với Công an xã LA tiến hành bắt quả tang Nguyễn Thị Kiều N, Trương Thị Thanh H và Trương Văn S đang có hành vi ghi số đề. Thu giữ 01 điện thoại Vivo A21 có chứa tin nhắn ghi số đề ngày 25/02/2022 và số tiền 2.000.000 đồng; thu giữ của H 02 điện thoại Samsung Galaxy và số tiền 5.400.000 đồng; thu giữ của S 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A70.
Quá trình điều tra xác định như sau: Khoảng giữa tháng 01/2022, Nguyễn Thị Kiều N bắt đầu tổ chức đánh bạc bằng hình thức nhận thầu số đề. N thuê Trương Thị Thanh H, Trương Văn S và đối tượng tên Diễm (chưa rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) phụ giúp trực tiếp ghi số đề của những người chơi đề rồi chuyển lại cho N, N trả tiền hoa hồng cho H, S và Diễm với tỷ lệ 1.000.000 đồng thì được hưởng 50.000 đồng. Hình thức tổ chức đánh bạc ghi đề như sau: H, S và Diễm ghi số đề của những người chơi, sau đó nhắn tin bằng điện thoại chuyển cho N, nếu N nhận thầu những con số này thì sẽ trả lời xác nhận “ok” qua tin nhắn cho H, S và Diễm, nếu N không trả lời “ok” thì coi như N chưa nhận thầu những số đó. Tương tự, H, S và Diễm sau khi nhận tin nhắn ghi đề của người đánh đề cũng nhắn lại cho họ “ok” thì mới xác nhận ghi đề cho họ. N dựa vào kết quả Xổ số của các đài Xổ để trực tiếp chung chi tiền thắng thua với H, S và Diễm.
Ngày 25/02/2022, N tổng hợp phơi đề và lấy kết quả Xổ số đài miền Nam (gồm 03 đài Bình Dương, Vĩnh Long và Trà Vinh) làm căn cứ thắng thua.
Ngày 25/02/2022, N trực tiếp ghi số đề cho Võ Văn S và Đỗ Thành Đ, cụ thể như sau:
Võ Văn S đánh bao lô đài Bình Dương số 15 với số tiền cá cược là 10.000 đồng, số tiền thực tế S phải đưa cho cho N là 150.000 đồng (S chưa đưa tiền cho N). Đỗ Thành Đ đánh đầu đuôi 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) số 20 với số tiền cá cược là 10.000 đồng, số tiền thực tế Đ phải đưa cho cho N là 40.000 đồng (Đ đã đưa 40.000 đồng cho N).
Ngày 25/02/2022, H, S và Diễm ghi số đề của những người khác và chuyển cho N, cụ thể như sau:
1. Trương Thị Thanh H đã ghi số đề chuyển đến cho N gồm những người sau:
Nguyễn Văn Nh ghi: đầu đuôi 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) số 09, 49, 89, 29, 69 và số 79 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi cặp số là 30.000 đồng; đầu đuôi 02 đài số 19 và 59 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi cặp số là 60.000 đồng; đầu đuôi 02 đài số 99 với số tiền cá cược ghi trên phơi là đầu 240.000 đồng và đuôi 120.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ghi trên phơi là 2.040.000 đồng (số tiền thực tế Nhớ phải đưa cho H là 1.700.000 đồng). Các bên chưa giao tiền cho nhau.
Nguyễn Thành Tùng đánh: đầu đuôi 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) số 44 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi cặp số là 15.000 đồng; bao lô 02 đài số 44 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 5.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ghi trên phơi là 230.000 đồng (số tiền thực tế T phải đưa cho H là 200.000 đồng). Các bên chưa giao tiền cho nhau.
Phạm Thị T ghi: Số đá 02 đài (gồm đài Bình Dương và đài Vĩnh Long) các cặp số 56-60, 56-65, 56-68, 56-53, 60-65, 60-68, 60-53, 60-68, 65-63, 68-53, 20-56, 20-60, 20-65, 20-68, 20-53 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi cặp là 2.000 đồng. Tổng số tiền ghi trên phơi là 1.800.000 đồng (tổng số tiền thực tế H phải đưa cho H là 1.800.000 đồng). Các bên chưa giao tiền cho nhau.
Bà Út (chưa rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) ghi: đầu đuôi 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) số 19, 96, 23, 63, 07, 87 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi số là 9.000 đồng; đầu đuôi 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) các số 75, 37, 77, 47, 50, 35 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi số là 15.000 đồng. Tổng số tiền ghi trên phơi là 576.000 đồng (tiền thực tế bà Út phải đưa cho Hằng là 480.000 đồng).
Sau khi ghi số đề của những người trên với tổng số tiền thực tế là 4.180.000 đồng, H đã chuyển qua tin nhắn điện thoại cho N xác nhận, N đã nhận thầu và nhắn tin trả lời “ok” cho Hằng. Ngoài ra H còn tham gia đánh số đề ăn thua trực tiếp với N gồm: số đá 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) các cặp số 11-51, 51-91, 11-91, 32-72, 11-52 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi cặp là 3.000 đồng, đánh số đá 02 đài cặp số 38-68 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi cặp 2.000 đồng; đầu đuôi 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) số 11, 51, 91 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi số là 15.000 đồng; đầu đuôi 02 đài số 38, 68 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi số là đầu 20.000 đồng và đuôi 10.000 đồng; bao lô đài Bình Dương số 68 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 20.000 đồng. Tổng số tiền ghi trên phơi là 1.660.000 đồng (tổng số tiền thực tế H phải đưa cho N là 1.570.000 đồng). Các bên chưa giao tiền cho nhau.
Tính đến ngày bị bắt, tổng số tiền thu lợi của H từ việc hưởng hoa hồng trong thời gian ghi số đề cho N là 4.000.000 đồng, H đã sử dụng đánh đề và tiêu xài cá nhân hết.
2. Trương Văn S ghi số đề chuyển đến cho N gồm những người sau:
Đặng Thị Ngọc Th ghi: Số đá 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) các cặp số 24-64 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi cặp số là 5.000 đồng; đầu đuôi 02 đài số 28 với số tiền cá cược ghi trên phơi số là 30.000 đồng; đầu đuôi 02 đài số 64 với số tiền cá cược ghi trên phơi là đầu 100.000 đồng và đuôi 20.000 đồng; bao lô 03 đài (Bình Dương, Vĩnh Long và Trà Vinh) số 11 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 50.000 đồng. Tổng số tiền thực tế Th phải đưa cho S là 2.850.000 đồng. Các bên chưa giao nhận tiền thắng thua cho nhau. Sau khi ghi số đề của Thắm nêu trên, S đã chuyển qua tin nhắn điện thoại cho N xác nhận, N đã nhận thầu và nhắn tin trả lời “ok” cho S.
Ngoài ra S còn nhận tin nhắn ghi số đề của Huỳnh Thanh Tr, Trần Thị Bạch T và Đặng Thị Ngọc Th nhưng S chưa chuyển cho N và S chưa xác nhận “ok” với những người này, cụ thể:
Huỳnh Thanh Tr ghi: Số đá 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) các số 11, 51, 91 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi số là 5.000 đồng; đánh số đá 02 đài cặp số 26-66 với số tiền cá cược ghi trên phơi là cặp 50.000 đồng. Tổng số tiền thực tế Trúc ghi số đề của S là 3.600.000 đồng. Các số này, S chưa chuyển cho N và S chưa xác nhận “ok” với Trúc.
Trần Thị Bạch T ghi: bao lô 02 đài (gồm đài Bình Dương và Vĩnh Long) các số 67, 24 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 100.000 đồng; Số đá 02 đài (gồm đài Bình Dương và đài Vĩnh Long) các cặp số 67-24 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi cặp số là 20.000 đồng; Tổng số tiền thực tế T ghi số đề của S là 7.200.000 đồng. Các số này, S chưa chuyển cho N và S chưa xác nhận “ok” với Tuyết.
Đặng Thị Ngọc Th ghi: bao lô 03 đài (gồm đài Bình Dương, Vĩnh Long và Trà Vinh) số 11 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 50.000 đồng; đầu đuôi 02 đài (gồm đài Bình Dương và đài Vĩnh Long) số 98 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 48.000 đồng; đầu đuôi 02 đài (gồm đài Bình Dương và đài Vĩnh Long) số 53 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 60.000 đồng; đầu đuôi đài Trà Vinh số 98 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 12.000 đồng; đầu đuôi đài Trà Vinh số 53 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 30.000 đồng. Tổng số tiền thực tế Th ghi số đề của S là 2.680.000 đồng. Các số này, S chưa chuyển cho N và S chưa xác nhận “ok” với Thắm.
Tính đến ngày bị bắt, tổng số tiền thu lợi của S từ việc hưởng hoa hồng trong thời gian ghi số đề cho N là 10.000.000 đồng, S đã sử dụng đánh đề và tiêu xài hết.
3. Một người phụ nữ tên D (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) ghi số đề chuyển số đến cho N như sau: số đầu đài Bình Dương số 74 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 120.000 đồng (số tiền thực tế là 100.000 đồng); đầu đuôi hai đài 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) các con số 69, 79, 70, 23, 32, 51, 91, 11, 29, 07, 27, 19, 16, 17, 15 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi số là 60.000 đồng (tổng số tiền thực tế phải đưa là 1.500.000 đồng); số đá 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) các cặp số 34-86, 16-54 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi cặp là 5.000 đồng (tổng số tiền thực tế phải đưa là 300.000 đồng); bao lô 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) các con số 87, 27 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 20.000 đồng (số tiền thực tế phải đưa là 300.000 đồng); số đá 27- 87 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 5.000 đồng, số tiền thực tế phải đưa là 150.000 đồng; bao lô đài Vĩnh Long các con số 36, 63, 26, 62 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi số là 10.000 đồng (tổng số tiền thực tế phải đưa là 600.000 đồng); đầu đuôi 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) các con số 21, 61, 39, 69, 43, 72, 35, 53, 59 với số tiền cá cược ghi trên phơi mỗi số 60.000 đồng (tổng số tiền thực tế phải đưa là 900.000 đồng); đầu 02 đài con số 79, 69 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 240.000 đồng (số tiền thực tế phải đưa là 200.000 đồng); đầu đuôi 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) các con số 26, 56, 67, 62, 82, 91, 22, 80, 71 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 60.000 đồng (tổng số tiền thực tế phải đưa là 900.000 đồng); bao lô đài Bình Dương số 91 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 10.000 đồng (số tiền thực tế phải đưa là 150.000 đồng); số đá 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) số 91, 17 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 2.000 đồng (số tiền thực tế phải đưa là 60.000 đồng); đầu đuôi 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) các con số 28, 24, 64, 11, 51, 07, 75, 47 với số tiền cá cược ghi trên phơi là đầu100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng (tổng số tiền thực tế phải đưa là 2.000.000 đồng); số đá 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) số 91, 17 với số tiền cá cược ghi trên phơi là 2.000 đồng (số tiền thực tế phải đưa là 60.000 đồng); đầu đuôi 02 đài (Bình Dương và Vĩnh Long) các con số 15, 43, 34, 20, 18 với số tiền cá cược ghi trên phơi là đầu 100.000 đồng, đuôi 50.000 đồng (tổng số tiền thực tế phải đưa là 1.250.000 đồng). Tổng số tiền thực tế Diễm ghi số đề chuyển cho N nhận thầu là 7.495.000 đồng, N đã nhận và trả lời xác nhận “ok” với D.
Đến 15 giờ 30 ngày 25/02/2022, thì N, S và H bị lực lượng Công an huyện Long Thành phối hợp Công an xã Long An tiến hành bắt quả tang như nêu trên. Tổng số tiền tổ chức đánh bạc đài Miền Nam (Bình Dương, Vĩnh Long và Trà Vinh) của N được xác định là 16.135.000 đồng. (Tại thời điểm bắt quả tang chưa có kết quả xổ số nên không tính tiền thắng thua). Tính đến ngày bị bắt, N thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề là 5.000.000 đồng, N tiêu xài hết 3.000.000 đồng, còn 2.000.000 đồng bị thu giữ.
Ngoài ra, N, H và S khai thời gian trước ngày 25/02/2022, N, H và S ghi số đề cho những người khác nhưng sau khi tổng hợp phơi đề và thanh toán tiền thắng thua xong thì đã đốt bỏ tờ phơi và xóa những tin nhắn điện thoại liên quan đến việc ghi số đề, không xác định được tên tuổi, lai lịch địa chỉ những người chơi đề và số tiền ghi đề, tiền thắng thua.
Vật chứng vụ án: Tạm giữ của N 01 điện thoại Vivo A21 và số tiền 2.000.000 đồng; tạm giữ của H 02 điện thoại Samsung Galaxy và số tiền 5.400.000 đồng; tạm giữ của S 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A70.
Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSLT ngày 27 tháng 01 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Kiều N, Trương Thị Thanh H, Trương Văn S về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Kiều N, Trương Thị Thanh H, Trương Văn S về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo N, H, S. Đề nghị xử phạt các bị cáo:
- Nguyễn Thị Kiều N 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.
- Trương Thị Thanh H 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
- Trương Văn S 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.000.000 đồng là tiền do N thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc; tịch thu sung quỹ 01 điện thoại Vivo A21 của N; 01 điện thoại Samsung Galaxy màu trắng của H và 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A70 của S do các N, H và S sử dụng vào việc phạm tội.
Riêng 01 điện thoại Samsung Galaxy màu đen và số tiền 5.400.000 đồng của H, xét không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho H.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Tòa án tuyên buộc N nộp lại 5.040.000 đồng (gồm 5.000.000 đồng là tiền do N thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc và 40.000 đồng là tiền N nhận ghi số đề của S); tuyên buộc H nộp lại 4.000.000 đồng và S 10.000.000 đồng là tiền các bị can thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc. (Hiện đang tạm giữ của N 2.000.000 đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra
- Công an huyện Long Thành, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Khoảng giữa tháng 01/2022, bị cáo Nguyễn Thị Kiều N bắt đầu tổ chức đánh bạc bằng hình thức nhận thầu số đề. Bị cáo N nói với bị cáo Trương Thị Thanh H, bị cáo Trương Văn S và đối tượng tên Diễm (chưa rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) nếu có ai ghi số đề thì trực tiếp nhận ghi số đề của những người khác rồi chuyển cho bị cáo N, bị cáo N trả tiền hoa hồng cho bị cáo H, bị cáo S và Diễm với tỷ lệ 1.000.000 đồng thì được hưởng 50.000 đồng. Ngày 25/02/2022, bị cáo H ghi số đề đài Miền Nam của Nguyễn Văn Nhớ, Nguyễn Thành T, Phạm Thị Tuyền, bà Út (chưa rõ tên tuổi, địa chỉ) rồi chuyển đến cho bị cáo N với tổng số tiền 4.180.000 đồng, và số tiền bị cáo Hằng trực tiếp ghi đề ăn thua trực tiếp với bị cáo N là 1.570.000 đồng; bị cáo S ghi số đề đài Miền Nam của Đặng Thị Ngọc Th chuyển đến cho bị cáo N với tổng số tiền 2.850.000 đồng và một người phụ nữ tên D (chưa rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) ghi số đề đài Miền Nam của những con bạc rồi chuyển đến cho bị cáo N với tổng số tiền 7.495.000 đồng; ngoài ra bị cáo N còn ghi trực tiếp cho Võ Văn S, Đỗ Thành Đ và bị cáo N đã nhận của Đ là 40.000 đồng. Tổng số tiền N nhận thầu đề đài Miền Nam ngày 25/02/2022 từ H, S và D được xác định là 16.135.000 đồng. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Kiều N, Trương Thị Thanh H, Trương Văn S phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương.
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Thị Kiều N là người đề xuất cho các bị cáo Trương Thị Thanh H, Trương Văn S và D (không rõ họ tên, địa chỉ) nếu có ai ghi đề thì ghi về giao lại cho bị cáo N để hưởng hoa hồng 5%, bị cáo H, bị cáo S và D đồng ý. Như vậy, các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương ứng với mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo N, H, S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo N, H và S đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, trong thời gian các bị cáo N, H, S tại ngoại không vi phạm pháp luật. Do đó, không cần thiết phải cách ly các bị cáo N, H, S ra ngoài xã hội mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về biện pháp tư pháp:
Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.000.000 đồng là tiền do N thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc;
Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại Vivo A21 của bị cáo N; 01 điện thoại Samsung Galaxy màu trắng của bị cáo H và 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A70 của bị S là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Tuyên buộc N nộp tiếp số tiền là 3.040.000 đồng; trong đó: 40.000 đồng tiền đánh bạc và 3.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
Tuyên buộc bị cáo H nộp lại 4.000.000 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc.
Tuyên buộc bị cáo S 10.000.000 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc.
Riêng 01 điện thoại Samsung Galaxy màu đen và số tiền 5.400.000 đồng của H, xét không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho bị cáo H.
Đối với Phạm Thị H, Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Thanh T, Huỳnh Thanh Tr, Đỗ Thành Đ và Võ Văn S có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề như nêu trên nhưng số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, tất cả đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc; Trần Thị Bạch T có hành vi nhắn tin cho S mua số đề nhưng S chưa chuyển cho N và chưa nhắn tin xác nhận “ok” với Tuyết nên chưa đủ căn cứ để khởi tố Tuyết. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Huyền, Nhớ, T, Trúc và T theo quy định.
Trong vụ án này còn có một số đối tượng gồm người phụ nữ tên C, D cùng một số thanh niên khác có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề nhưng chưa xác định tên tuổi, địa chỉ cụ thể, Đặng Thị Ngọc Th có hành vi ghi số đề nhưng hiện đã bỏ đi khỏi địa phương chưa làm việc được, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau.
Đối với hành vi tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề của N, H và S trong khoảng thời gian trước ngày 25/02/2022, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ của những người ghi đề và không các định được số tiền đánh bạc (ghi đề) nên không có căn cứ xử lý.
Đối với các tin nhắn S nhận ghi số đề của Huỳnh Thanh Tr, Trần Thị Bạch T và Đặng Thị Ngọc Th nhưng S chưa chuyển cho N và S chưa xác nhận “ok” với những người này nên chưa xác nhận đánh bạc với nhau, do đó không đủ căn cứ để xử lý.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Kiều N, Trương Thị Thanh H, Trương Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Kiều N, Trương Thị Thanh H, Trương Văn S phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kiều N 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Trương Thị Thanh H 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Trương Văn S 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.1. Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại Vivo A21 của bị cáo N; 01 điện thoại Samsung Galaxy màu trắng của bị cáo H và 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A70 của bị S là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2023 giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành).
2.2. Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) đã nộp tại tài khoản số 39490103637100000 mở tại Kho bạc nhà nước huyện Long Thành (Ngân hàng trung gian: BIDV Đông Đồng Nai) ngày 28/02/2023.
2.3. Tuyên buộc N nộp tiếp số tiền là 3.040.000 đồng; trong đó: 40.000 đồng tiền đánh bạc và 3.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
2.4. Tuyên buộc bị cáo H nộp lại 4.000.000 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc.
2.5. Tuyên buộc bị cáo S nộp lại 10.000.000 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Thị Kiều N, Trương Thị Thanh H, Trương Văn S mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND huyện Long Thành (1); - Công an huyện Long Thành (5); - Chi cục THADS huyện Long Thành (1); - Bị cáo (1); - Lưu: Hồ sơ vụ án, BP, VT (5). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Tấn Hưng |