- Tranh chấp gì? án hình sự — "THẠCH QUYỀN - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2023/HS-PT Ngày: 05/5/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh
Các Thẩm phán:
Bà Lưu Thị Thủy Tiên
Bà Quách Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Lê Thủy Tiên - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 26 tháng 4 năm 2023 và 05 tháng 05 năm 2023 tại trụ sở
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án
hình sự phúc thẩm thụ lý số 02/2023/TLPT-HS ngày 04 tháng 01 năm 2023,
đối với bị cáo Thạch Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự
sơ thẩm số 78/2022/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân
dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Thạch Q, sinh ngày 16 tháng 7 năm 2003; nơi sinh: Sóc Trăng; thường
trú: Phường A, thị xã B, tỉnh Sóc Trăng; Cư trú: Đường C, Phường D, Quận E,
Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm công; trình độ học vấn: 09/12;
dân tộc: Khmer; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch H
(chết) và bà Thạch Thị U; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; Tiền án:
Không; Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Tấn Đ là Trợ giúp viên pháp
lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh. (có
mặt)
Địa chỉ: Đường M, Phường N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 10 phút ngày 25/5/2021, Thạch Q điều khiển xe gắn
máy biển số 83V1-095.32 (nhãn hiệu Suzuki, số loại Satria, sơn màu Xanh Đen, dung tích 147) lưu thông trên đường H theo hướng từ đường K về đường X. Khi đến trước nhà số B đường H, Phường T, Quận E, Quyền điều khiển xe vượt lên bên phải xe gắn máy biển số 70L1-189.46 do ông Trần Anh S điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều. Lúc này, ông S đang bật đèn xi nhan xin đường rẽ phải vào đường Đ. Do không làm chủ được tốc độ, tay lái, Q đã để đầu phuộc hơi bánh trước bên trái xe va chạm vào mặt ngoài bên phải ống xả xe của ông S làm cho cả hai xe và người trên xe ngã xuống đường. Tai nạn xảy ra ông S bị thương và được đưa vào Bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu, nhưng ông S đã chết tại bệnh viện lúc 18 giờ 40 phút ngày 27/5/2021. Riêng Q bị chấn thương nhẹ và được người thân đưa vào Bệnh viên Quận 11 chữa trị.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 777/TT.21 ngày 11
tháng 6 năm 2021 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh thì kết quả giám định pháp y tử thi đối với ông Trần Anh S như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Các dấu hiệu chính khi khám nghiệm:
+ Nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu và rách da trên cơ thể.
+ Vết mổ cấp cứu ở đầu chưa cắt chỉ.
+ Vỡ phức tạp nền sọ.
+ Tụ máu dưới màn cứng lớp mỏng ở bán cầu đại não phải.
+ Xuất huyết dưới nhện hai bán cầu đại não và tiểu não, xuất huyết cầu
não.
+ Dập não thùy trán và thái dương phải.
+ Các tạng khác không tổn thương.
- Kết quả xét nghiệm mô bệnh học: Dập vỏ não, hạch đáy não và cầu
não.
- Kết quả xét nghiệm độc chất: Không thực hiện.
2. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.
3. Kết luận khác: Không.
Qua khám nghiệm hiện trường đã xác định được như sau: Đường H
được trải nhựa tương đối bằng phẳng, áp dụng cho xe lưu thông hai chiều và được phân cách bởi vạch sơn vàng liên tục. Mỗi chiều đường được chia thành hai làn đường lưu thông, làn đường bên trái rộng 3,50 mét, làn đường bên phải rộng 3,40 mét, giữa hai làn đường được phân cách bởi vạch sơn trắng không liên tục. Tai nạn xảy ra tại làn đường bên phải của chiều đường theo hướng từ đường K về đường X (đoạn đường trước nhà số B đường H, Phường T, Quận E).
Lấy mép lề phải đường H (theo hướng từ đường K về đường X) làm lề
chuẩn. Lấy trụ đèn chiếu sáng công cộng số TúSLP3/55 trên vỉa hè lề chuẩn làm điểm mốc cố định hiện trường. Từ điểm này đo ra lề chuẩn có kích
thước 1,60 mét; đo ra đầu vết cày xe mô tô biển số 70L1-189.46 là 4,70 mét.
Tất cả các vị trí, dấu vết đo được như sau:
- Chiều dài vết cày của xe mô tô biển số 70L1-189.46 để lại trên mặt
đường sau tai nạn là 4,20 mét, có hướng từ đường K về đường X và chếch
về bên trái. Điểm đầu vết cày đo vào lề chuẩn là 2,40 mét. Điểm cuối vết
cày đo vào lề chuẩn là 3,50 mét.
- Chiều dài vết cày của xe mô tô biển số 83V1-095.32 để lại trên mặt
đường sau tai nạn là 14,20 mét, có hướng từ đường K về đường X và chếch
về bên phải. Điểm đầu vết cày đo vào lề chuẩn là 1,30 mét, đo đến đầu vết
cày của xe mô tô biển số 70L1-189.46 là 2,40 mét và đo đến tâm trục bánh
sau xe mô tô biển số 70L1-189.46 là 1,80 mét. Điểm cuối vết cày này đo
vào lề chuẩn là 0,30 mét.
- Vị trí của xe mô tô biển số 70L1-189.46: Sau va chạm đã được người
dân dẫn vào sát lề đường, đầu xe hướng về đường X và chếch về bên phải.
Tâm trục bánh trước đo vào lề chuẩn là 0,10 mét. Tâm trục bánh sau đo vào
lề chuẩn là 0,80 mét.
- Vị trí của xe mô tô biển số 83V1-095.32: Sau va chạm đã được người
dân dẫn vào sát lề đường, đầu xe hướng về đường K và chếch về bên phải.
Tâm trục bánh trước đo vào lề chuẩn là 1,10 mét. Tâm trục bánh sau nằm
ngay vị trí lề chuẩn và đo đến đầu vết cày xe mô tô biển số 83V1-095.32
(theo hướng ra tim đường) là 0,40 mét.
- Vết máu nạn nhân để lại trên mặt đường có kích thước 0,1x0,1 mét.
Từ tâm vết máu đo ra lề chuẩn là 0,60 mét và đo đến điểm cuối vết cày của
xe mô tô biển số 83V1-095.32 là 1,00 mét.
Quá trình khám nghiệm được tiến hành trong điều kiện: Trời tối, có
đèn chiếu sáng công cộng, mặt đường ướt mưa.
Qua khám nghiệm dấu vết phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông
đã xác định:
- Xe môtô biển số 70L1-189.46: Mặt ngoài ống xả khí bị xước, sạch
bụi và còn dính ít mùn màu đen, kích thước 33x5cm; Thanh kim loại dùng
để cố định ốp ống xả khí bị trầy xước lõm mép hướng từ ngoài vào trong,
kích thước 7x2cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 28cm; Mặt ngoài vè chắn
bùn phía sau bên phải (ngay vị trí đèn phản quang) có vết trầy xước nhựa
còn mới; Ốp nhựa thân xe bên phải bị bể vỡ nhựa; Mặt ngoài tay cầm nâng
xe phía sau bên phải có vết xượt còn dính mùn màu đen; Gác chân người
ngồi sau bên phải bị gãy kim loại rời khỏi xe, mặt ngoài thanh kim loại dùng
để gắn gác chân còn dính mùn màu đen; Mặt dưới bệ để chân người ngồi lái
bên phải bị trầy xước nhựa còn mới. Tất cả các dấu vết trên phù hợp với dấu
vết va chạm với xe môtô biển số 83V1-095.32 tạo thành.
Mặt ngoài vè chắn bùn bánh trước bên trái bị trầy xước nhựa; Mặt
trước chân kính chiếu hậu bên trái bị trầy xước kim loại; Mặt ngoài đầu tay
thắng bên trái và đầu tay cầm lái bên trái bị trầy xước kim loại; Ốp nhựa bao
đèn xi nhan và mặt trước đèn xi nhan phía trước bên trái bị trầy xước nhựa;
Mặt ngoài bửng chắn gió bên trái bị trầy xước nhựa; Mặt dưới gác chân người lái bên trái bị trầy xước nhựa và bung các khớp nối; Mặt ngoài chân chống đứng bên trái và mặt ngoài chân chống nghiêng bên trái bị trầy xước kim loại; Ốp nhựa thân xe bên trái bị trầy xước nhựa; Đầu gác chân người ngồi sau (nơi bắt cố định) bị trầy xước kim loại. Tất cả các dấu vết trầy xước trên đều còn mới và phù hợp với dấu vết xe môtô biển số 70L1-189.46 ngã xuống đường tạo thành.
- Xe môtô biển số 83V1-095.32: Mặt ngoài bên trái lốp bánh trước có
vết trầy xước cao su còn mới, kích thước 20x2cm, điểm gần nhất cách chân van là 05cm; Mặt trước bên trái bánh mâm (ngay vị trí trục quay) có vết trầy xước (tại vị trí này còn dính vết rỉ sét), kích thước 03x0,1cm; Mặt trước và mặt ngoài phuộc trước bên trái có dấu vết trầy xước và sạch bụi, kích thước 15x03cm; Mặt trước ốc bắt cố định bánh trước bên trái bị trầy xước kim loại (tại vị trí này còn dính ít mảnh kim loại), điểm thấp nhất cách mặt đất là 28cm; Mặt ngoài vè chắn bùn bánh trước trước bên trái, tại vị trí bắt ốc bị nứt gãy, kích thước là 04cm; Mặt ngoài ốp nhựa chắn gió bên trái bị trầy xước, dính bùn màu đen, kích thước là 13x2cm; Mặt ngoài phía dưới bên trái ốp nhựa này bị trầy xước sạch bụi còn mới, kích thước là 06x0,5cm; Ốc cố định còi xe còn dính mảnh nhựa màu đen; Mặt ngoài lốc máy bên trái bị trầy xước kim loại tại hai vị trí, lần lượt có kích thước là 03cm và 04cm; Cần đạp số trước bên trái bị cong vênh hướng từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài lệch so với vị trí ban đầu; Mặt ngoài ốp nhựa đèn xi nhan phía sau bên trái có vết trầy xước nhựa. Tất cả các dấu vết trên phù hợp với dấu vết va chạm với xe môtô biển số 70L1-189.46 tạo thành.
Ốp nhựa bao đèn xi nhan và mặt trước đèn xi nhan phía trước bên phải
bị trầy xước nhựa, mặt đèn chiếu sáng vị trí này cũng bị trầy xước nhựa; Mặt trước hộp đựng dầu thắng bên phải bị trầy xước kim loại; Thanh kim loại dùng để bắc kính chiếu hậu bên phải và mặt trước phía trên kính chiếu hậu bên phải bị trầy xước nhựa; Đầu tay thắng và nơi bắc cố định thắng trước bên phải bị trầy xước kim loại; Đầu tay cầm người lái bên phải bị trầy xước kim loại. Ốc bắc cố định bánh trước bên phải bị trầy xước kim loại. Mặt ngoài bàn đạp thắng bên phải bị trầy xước kim loại và bị cong vênh hướng từ sau về trước, từ ngoài vào trong; Mặt ngoài gác chân người lái bên phải bị trầy xước kim loại; Mặt ngoài ống xả khí và ốp ống xả khí bên phải bị trầy xước kim loại; Mặt ngoài đèn xi nhan phía sau bên phải bị trầy xước nhựa. Tất cả các dấu vết trầy xước trên đều còn mới và phù hợp với dấu vết xe môtô biển số 83V1-095.32 ngã xuống đường tạo thành. Ghi nhận kính chiếu hậu bên trái bị xoay mặt kính ra phía trước.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 quyết định
trưng cầu giám định: Xác định chiều hướng, dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 70L1-189.46 và xe mô tô biển số 83V1-095.32 (Quyết định số: 389/QĐ-ĐTTH).
Và tại Kết luận giám định số: 5374/KLGĐ-TT ngày 08 tháng 11 năm
2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận:
- Dấu vết hằn trượt xước kim loại ở mặt ngoài bên phải ống xả của xe
mô tô biển số 70L1-189.46, chiều hướng từ sau về trước phù hợp với dấu
vết trượt xước kim loại ở mặt ngoài bên trái đầu ốc cố định bánh trước của
xe mô tô biển số 83V1-095.32, chiều hướng từ trước về sau.
- Dấu vết hằn kim loại bám dính chất màu đen ở mặt ngoài bên phải bu
lông cố định ốp ống xả của xe mô tô biển số 70L1-189.46, chiều hướng từ
sau về trước phù hợp với dấu vết hằn kim loại ở mặt ngoài bên trái tại vị trí
đầu phuộc hơi bánh trước của xe mô tô biển số 83V1-095.32, chiều từ trước
về sau.
- Dấu vết trượt xước bám chất màu đen ở mặt ngoài bên phải ống xả
của xe mô tô biển số 70L1-189.46, chiều từ sau về trước phù hợp với dấu
vết trượt xước cao su ở mặt ngoài bên trái lốp bánh xe trước của xe mô tô
biển số 83V1-095.32, chiều từ trước về sau.
- Không đủ cơ sở kết luận các dấu vết còn lại ở xe mô tô biển số 70L1-
189.46 và xe mô tô biển số 83V1-095.32.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra dựng lại hiện
trường để xác định vị trí va chạm giữa xe môtô biển số 70L1-189.46 và xe
mô tô biển số 83V1-095.32. Tại Biên bản thực nghiệm điều tra ngày 18
tháng 5 năm 2022 đã xác định vị trí, dấu vết va chạm giữa xe môtô biển số
70L1-189.46 và xe mô tô biển số 83V1-095.32 đúng như Biên bản khám
nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông mà Công an đã lập ngày 25 tháng
5 năm 2021.
Ngày 18 tháng 5 năm 2022, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra quyết
định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 53/QĐ-ĐTTH); khởi tố bị can
đối với Thạch Q về tội «Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ» (Quyết định số: 78/QĐ-ĐTTH).
Tại Cáo trạng số: 78/CT-VKS-Q6 ngày 27 tháng 10 năm 2022, Viện
kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Thạch Q
về tội «Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ» theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ
sung năm 2017.
Tại Bản án số 78/2022/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Tòa án
nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
‘Tuyên bố bị cáo Thạch Q phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và Điều 50 của Bộ
luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Thạch Q 02 (hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.”
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án
phí, quyền và thời hạn kháng cáo.
Ngày 02/12/2022, bị cáo Thạch Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt,
xin được hưởng án treo;
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo về việc xin được hưởng án treo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân
tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, xét Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận 6 đã áp dụng tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Xét kháng cáo của bị cáo Thạch Q nhận thấy: Do thiếu ý thức trong
việc chấp hành luật giao thông đường bộ mà bị cáo đã phạm tội; tại cấp phúc thẩm ngoài các tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã áp dụng, bị cáo còn có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là đã bồi thường toàn bộ chi phí tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt và hiện tại bị cáo đang đi học nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo;
Người bào chữa cho bị cáo Thạch Q trình bày:
Thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Tại
phiên tòa phúc thẩm bị cáo có thêm các tình tiết giảm nhẹ mới: bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại về tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại gởi đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đang đi học. Do đó, đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo;
Bị cáo Thạch Q trình bày: Xin cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo
được đi học và chăm sóc mẹ hay đau ốm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn luật định nên thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.
Căn cứ lời khai của bị cáo Thạch Q cùng các tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 25/5/2021, bị cáo chưa có giấy phép lái xe đã điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Satria, biển số 83V1-095.32 có dung tích xilanh trên 147cc vượt phải xe mô tô biển số 70L1-189.76 do ông Trần Anh S điều khiển đang lưu thông cùng chiều đã bật đèn xi nhan rẽ phải, dẫn đến tai nạn tại trước nhà số B, đường H, phường T, Quận E, hậu quả ông S tử vong do chấn thương sọ não, vi phạm Điều 14 Luật giao thông đường bộ (có lỗi hoàn toàn). Do đó, bản
án hình sự sơ thẩm số 78/2022/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Tòa
án nhân dân quận 6 đã áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 318, điểm b, s Khoản
1, Khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 và Điều 50 Bộ luật hình sự năm
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Thạch Q 02 (hai) năm tù về
tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ và
đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo: Tại phiên tòa
phúc thẩm bị cáo bổ sung giấy xác nhận đã bồi thường toàn bộ tổn thất tinh
thần cho gia đình bị hại như quyết định của bản án sơ thẩm; đơn xin giảm
nhẹ hình phạt của gia đình bị hại và giấy xác nhận đang đi học.
Xét thấy bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi - không đủ điều kiện được
cấp giấy phép lái xe mô tô theo quy định; nhân thân bị cáo tốt – chưa có tiền
án, tiền sự; đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại và được gia đình
bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bản thân bị cáo đang học tập và rèn
luyện tại trường Cao Đẳng Công Thương Việt Nam nghĩ không cần thiết bắt
bị cáo phải chấp hành bình phạt tù mà cho hưởng án treo, ấn định thời gian
thử thách nhất định nhằm tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục việc học.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thi hành xong;
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận
toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
tại phiên tòa; chấp nhận kháng cáo của bị cáo và chấp nhận bài bào chữa,
giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm và cho bị cáo được hưởng án treo;
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận
kháng cáo của bị cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thạch Q, sửa bản án sơ thẩm - giữ
nguyên hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản
1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và Khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật
hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Thạch Q 02 (hai) năm tù về tội ‘Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ’, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục
trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý bi phạm
nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều
23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo)
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - TAND cấp cao tại Tp.HCM (1) - VKSND cấp cao tại Tp.HCM (1) - VKSND Tp.HCM; (3) - Cục THA DS Tp.HCM; (1) - Sở Tư pháp Tp.HCM; (2) - VKSND Q. 6; (1) - TAND Q. 6; (1) - Chi cục THADS Q. 6; (1) - THAHS Q. 6; (1) - Phòng PC53 - CA Tp.HCM; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (2) - Người tham gia tố tụng; (8) - Lưu: VT, TGĐ, hồ sơ; (29) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Anh |