- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo T4, gi
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 118/2023/HS-PT Ngày: 18/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Châu. Các Thẩm phán: Ông Thái Văn Chấn; Ông Phạm Tấn Tài. . - Thư ký phiên tòa: Bà La Hồng Ngân– Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 191/2023/TLPT-HS ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Trần Thị T do có kháng cáo của bị cáo Trần Thị T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2023/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang. - Bị cáo có kháng cáo: Trần Thị T, sinh năm 1962, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp A, xã H (nay là khóm A, thị trấn H), huyện C, tỉnh An Giang; Ngh nghiệp: làm thuê; Giới t nh: N ; uốc tịch: Việt Nam; Dân t c: Kinh; Tôn giáo: ao ph t; Trình đ văn hóa: 02/12; Con ông Võ Văn M (đã chết) và bà Trần Thị T1 (đã chết); chồng: Trần Văn H (đã chết), hiện nay sống như vợ, chồng với Nguyễn Văn M1, sinh năm 1967; Con: có 06 ngư i, lớn sinh năm 1979, nh sinh năm 1993; A, chị, em ru t: có 03 ngư i, bị cáo là ngư i lớn nhất; Ti n án: không; Ti n sự: Ngày 18/5/2020, bị Ủy ban nhân dân xã H (nay là thị trấn H) ra uyết định xử phạt vi phạm hành ch nh 1.500.000 đồng, v hành vi “ ánh bạc trái phép”, đã n p phạt xong. Bị cáo tại ngoại và v ng m t tại phiên tòa. (Trong vụ án, ngư i có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, n i dung vụ án được tóm t t như sau: Khoảng 15 gi ngày 18/12/2020, nh n được tin báo của ngư i dân, Công an xã H (nay là thị trấn H), huyện C kiểm tra, phát hiện Trần Thị T (đã bị xử phạt vi phạm hành ch nh v hành vi đánh bạc trái phép) cùng với inh Thị M ng T2, Lê Kim M2, Nguyễn Thị C đánh bạc bằng hình thức đánh bài tứ s c được thua bằng ti n tại nhà của Nguyễn Thành T3 thu c tổ C, ấp A, xã H (nay là khóm A, thị trấn H), nên lực lượng chức năng tiến hành l p biên bản b t quả tang. * V t chứng thu gi : 01 b bài tứ s c và 100.000 đồng (của T3, T2, M2, C dùng để đánh bạc). Tại Bản cáo trạng số 31/CT-VKSCM ngày 19/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh An Giang đã truy tố Trần Thị T v t i “ ánh bạc” theo quy định tại khoản 1 i u 321 B lu t Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang đã quyết định: - V t i danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm t i “ ánh bạc”. - V hình phạt: căn cứ khoản 1 i u 321; điểm i, s, khoản 1, i u 51; i u 38 B lu t Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị T 06 (sáu) tháng tù v t i “ ánh bạc”. Th i hạn tù được t nh t ngày b t bị cáo đi chấp hành án. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên v án ph hình sự và quy n kháng cáo theo quy định. Ngày 04/8/2023, bị cáo Trần Thị T có đơn kháng cáo với n i dung: Xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo T v ng m t. Kiểm sát viên thực hiện quy n công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm v vụ án và đ xuất với H i đồng xét xử: - V t nh hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Trần Thị T kháng cáo trong hạn lu t định nên đ nghị H i đồng xét xử phúc thẩm chấp nh n việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm. - V hành vi phạm t i của bị cáo: Tuy tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo v ng m t nhưng l i khai nh n t i của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp l i khai của nh ng ngư i có quy n lợi nghĩa vụ liên quan, l i khai của ch nh bị cáo giai đoạn đi u tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. ủ căn cứ xác định: bị cáo biết rõ việc đánh bạc trái phép là vi phạm pháp lu t nhưng cố ý thực hiện vì mục đ ch vụ lợi, bị cáo đã phạm t i “ ánh bạc” theo khoản 1 i u 321 B lu t Hình sự. Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo t i “ ánh bạc” và đánh giá đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân để xét xử bị cáo 06 tháng tù là phù hợp, có căn cứ và đúng ngư i, đúng t i. Bị cáo T kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới. Do đó, đ nghị H i đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 i u 355, i u 356 B lu t Tố tụng hình sự: không chấp nh n yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị T, gi nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Xử phạt: Bị cáo Trần Thị T 06 tháng tù v t i “ ánh bạc” và bị cáo phải chịu án ph phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
V thủ tục tố tụng: Bị cáo Trần Thị T kháng cáo trong th i hạn lu t định nên được H i đồng xét xử xem xét chấp nh n kháng cáo để giải quyết theo trình tự phúc thẩm. V sự v ng m t của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo Trần Thị T đã được triệu t p hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn v ng m t và việc v ng m t của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào điểm c khoản 1 i u 351 B lu t tố tụng hình sự, H i đồng xét xử tiến hành xét xử v ng m t bị cáo tại phiên tòa. [2] V n i dung vụ án: L i khai nh n t i của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hoàn toàn phù hợp với l i khai của bị cáo trong giai đoạn đi u tra, phù hợp với l i khai của ngư i có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan, ngư i làm chứng, Biên bản v việc phạm pháp quả tang ngày 18/12/2020 của Công an xã H, huyện C và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Ngày 18/5/2020, bị cáo có hành vị đánh bạc trài phép, bị công an bị công an xã H xử phạt vi phạm hành ch nh số ti n 1.500.000 đồng đã n p phạt xong. ến ngày 18/12/2020, bị cáo tiếp tục tham gia đánh bạc cùng với C, T2, M thì bị b t quả tang với tổng số ti n đánh bạc là 100.000 đồng. [3] Căn cứ vào quy định của pháp lu t thì hành vi của bị cáo Trần Thị T đã phạm vào t i “ ánh bạc”. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo v t i danh này theo khoản 1 i u 321 B lu t Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngư i, đúng t i và đúng pháp lu t. [4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị T, H i đồng xét xử nh n thấy: Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết được việc nào nên làm, không nên làm; cố g ng lao đ ng để tạo ra của cải v t chất m t cách ch nh đáng nuôi sống bản thân và trở thành công dân có ch cho gia đình, xã h i, làm tấm gương tốt cho con cháu noi theo. Nhưng không làm được đ u này, do ham mê th ng thua bằng hình thức may rủi, muốn có ti n để tiêu xài mà không phải tốn nhi u công sức lao đ ng cực nhọc nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm t i. Bị cáo hoàn toàn nh n thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp lu t (đã t ng bị xử phạt vi phạm hành ch nh v hành vi đánh bạc trái phép) và gây ra nhi u h u quả xấu cho xã h i nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tr t tự và nếp sống văn minh của xã h i. Bị cáo phải biết đánh bạc là m t tệ nạn bị xã h i lên án, là nguyên nhân làm phát sinh nhi u loại t i phạm khác, việc đánh bạc trái pháp lu t bị Nhà nước nghiêm cấm. Do đó, cần có m t mức hình phạt nghiêm tương ứng với hành vi phạm t i của bị cáo, nhằm giáo dục, răn đe và phòng ng a chung cho xã h i. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng t nh chất của vụ án khi quyết định hình phạt ngoài xem xét tình tiết tăng n ng lên còn xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: trong quá trình đi u tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, t rõ ăn năn, hối cải đối với hành vi vi phạm; phạm t i lần đầu và thu c trư ng hợp t nghiêm trọng theo quy định tại điểm s, i khoản 1 i u 51 B lu t Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp lu t. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo tuy v ng m t và có kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào khác chưa được cấp sơ thẩm xem xét. [5] T nh ng nh n định trên, H i đồng xét xử không chấp nh n yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, gi nguyên bản án sơ thẩm như đ nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quy n công tố tại phiên tòa. [6] V án ph : Do kháng cáo không được chấp nh n nên bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) ti n án ph hình sự phúc thẩm. [7] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp lu t kể t ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 i u 355, i u 356 B lu t Tố tụng hình sự năm 2015; Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo T4, gi nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Căn cứ: khoản 1 i u 321; điểm i, s, khoản 1 i u 51; i u 38 B lu t Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm t i “ ánh bạc”. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị T 06 (sáu) tháng tù v t i “ ánh bạc”. Th i hạn tù được t nh t ngày b t bị cáo đi chấp hành án. V án ph : Bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự phúc thẩm. Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp lu t kể t ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND cấp cao (1); - VKSND tỉnh An Giang (2); - TAND huyện C (2); - Công an huyện C (1); - Cục THADS tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện C (1); - Trại tạm giam (1); - Bị cáo (1); - Ngư i có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan (3); - Phòng KTNV và THA (1); - PV 06 (1); - Sở Tư pháp (1); - Văn phòng (2); - Lưu Tòa, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Minh Châu |