- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lâm Thị Ngọc H, bà Lâm Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Hồng N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13 – 9 – 2023 V/v “Tranh chấp xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cao Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Thanh Tâm.
Ông Nguyễn Xuân Thành.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ân Tình là Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
Ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Ngọc H, sinh năm 1993 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng N, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 7 năm 2023 nguyên đơn bà Lâm Thị Ngọc H trình bày: Bà và ông Nguyễn Hồng N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Thời gian vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi, tính tình không còn phù hợp. Bà và ông N đã sống ly thân với nhau hơn 01 năm nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hồng N.
Về con chung: Bà và ông N có hai người con chung tên Nguyễn Nhật N, sinh ngày 11/02/2016 và Nguyễn Nhật H, sinh ngày 22/5/2017. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi hai con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; nợ thu, nợ trả: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ông Nguyễn Hồng N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa: Bà H có mặt vẫn bảo lưu quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bà Lâm Thị Ngọc H khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Hồng N, địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Ông Nguyễn Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tuy nhiên ông N vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt ông N tại phiên tòa.
Về hôn nhân: Bà Lâm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Hồng N tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau vào ngày 27/5/2015, do đó hôn nhân giữa bà H và ông N là hợp pháp. Bà H trình bày trong cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, hiện nay ông bà đã sống ly thân với nhau. Ông N đã được Toà án tống đạt thông báo về việc bà H yêu cầu ly hôn nhưng không có ý kiến phản hồi. Xét thấy mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng giữa bà H và ông N là thực tế có xảy ra. Mặt khác, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến ngày xét xử bà H và ông N vẫn không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng lại với nhau. Tại phiên toà hôm nay, bà H vẫn cương quyết xin ly hôn với ông N. Xét thấy, hôn nhân của bà H và ông N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lâm Thị Ngọc H đối với ông Nguyễn Hồng N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà H và ông N có hai người con chung tên Nguyễn Nhật N, sinh ngày 11/02/2016 và Nguyễn Nhật H, sinh ngày 22/5/2017. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Ông N đã được Toà án thông báo về yêu cầu nuôi con của bà H tuy nhiên ông không có ý kiến phản hồi. Mặt khác, tại Đơn nguyện vọng ngày 02/8/2023 Nguyễn Nhật N có nguyện vọng được sống cùng với bà H. Xét thấy để đảm bảo sự phát triển bình thường về mọi mặt của các con và theo nguyện vọng của Nguyễn Nhật N nên cần giao Nguyễn Nhật N, Nguyễn Nhật H cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom, chăm sóc con theo luật định.
Về tài sản chung; nợ thu; nợ trả: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà Lâm Thị Ngọc H phải nộp 300.000 đồng. Bà H đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0020534 ngày 17 tháng 7 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lâm Thị Ngọc H, bà Lâm Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Hồng N.
Về con chung: Giao hai người con chung Nguyễn Nhật N, sinh ngày 11/02/2016 và Nguyễn Nhật H, sinh ngày 22/5/2017 cho bà Lâm Thị Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng. Phần cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu xem xét.
Ông N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của bà H.
Về tài sản chung; nợ thu; nợ trả: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Lâm Thị Ngọc H phải nộp 300.000 đồng. Bà H đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0020534 ngày 17 tháng 7 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Ngọc Hiển; - Chi cục THADS huyện Ngọc Hiển; - TAND tỉnh Cà Mau; - UBND xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Dung |