- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa anh N và chị D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Trăng N, cho ly hôn giữa anh Lê Văn Trăng N và chị Trần Thị Kim D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17-11-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Tấn Dũng.
2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2023/QĐXX-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lê Văn Trăng N, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1992; Nơi cư trú: Ấp X, xã VT, huyện VT, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Chị Trần Thị Kim D, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Ấp Y, xã TL, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 8 năm 2023, biên bản lấy lời khai ngày 19 tháng 10 năm 2023 của nguyên đơn anh Lê Văn Trăng N trình bày: Vào năm 2018 (không nhớ ngày tháng), anh và chị Trần Thị Kim D sau một thời gian tìm hiểu đã tiến tới hôn nhân, cả hai được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào tháng 12 năm 2018 và anh, chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TTHB (nay là xã TL), huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu hai vợ chồng sống chung với nhau rất hạnh phúc, đến đầu năm 2021 thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn về tình cảm gia đình, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải nhau, không còn tôn trọng nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị Kim D. Về con chung: Anh đồng ý giao con chung Lê Trần Ngọc H, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2019 cho chị Trần Thị Kim D được tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với chị Trần Thị Kim D đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Lê Văn Trăng N được ly hôn với chị Trần Thị Kim D; về nuôi con chung: Giao con chung Lê Trần Ngọc H, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2019 cho chị Trần Thị Kim D được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Lê Văn Trăng N không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Văn Trăng N trình bày không có, còn chị Trần Thị Kim D không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nguyên đơn anh Lê Văn Trăng N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Trần Thị Kim D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Lê Văn Trăng N và chị Trần Thị Kim D là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của anh Lê Văn Trăng N đối với chị Trần Thị Kim D, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của anh Lê Văn Trăng N thì cuộc sống của anh và chị Trần Thị Kim D không hạnh phúc từ năm 2021 do hai vợ chồng mâu thuẫn về tình cảm gia đình, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải nhau, không còn tôn trọng nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của anh Trăng N với chị Kim D hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của anh Trăng N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho anh Lê Văn Trăng N ly hôn với chị Trần Thị Kim D.
Về việc nuôi con chung: Anh Lê Văn Trăng N đồng ý giao con chung Lê Trần Ngọc H, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2019 cho chị Trần Thị Kim D được tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh Trăng N và chị Kim D không còn sống chung và hiện nay thì con chung do chị Kim D chăm sóc, nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Kim D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh Trăng N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Kim D không có văn bản ghi ý kiến để Tòa án xem xét, nếu chị Kim D có yêu cầu thì chị được quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Văn Trăng N cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn chị Trần Thị Kim D không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Trăng N, cho ly hôn giữa anh Lê Văn Trăng N và chị Trần Thị Kim D.
2. Về việc nuôi con chung:
2.1. Chị Trần Thị Kim D được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Lê Trần Ngọc H, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2019.
2.2. Anh Lê Văn Trăng N không phải cấp dưỡng nuôi con.
2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí sơ thẩm: Anh Lê Văn Trăng N chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006011 ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Hồng Ngự; - UBND X.TL, H.HN; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |