- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho chị Đặng Thị Ch được ly hôn với anh Trần Trung H
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22/5/2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Xuân Thường, bà Bùi Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Tuyết Loan – Kiểm sát viên
Ngày 22/5/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 284/2022/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/4/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Ch, sinh năm 1990. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm Hồ Th, xã Tân L, huyện Tân K, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: Maison de Call B203, 832-1 Ebe, thành phố Nakano, tỉnh Nagano, Nhật Bản. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Trần Trung H, sinh năm 1988. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm Hồ Th, xã Tân L, huyện Tân K, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Trần Đại B, sinh năm 1964 và bà Hoàng Thị Ng, sinh năm 1963. Địa chỉ: xóm Hồ Th, xã Tân L, huyện Tân K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị Ch trình bày: chị Đặng Thị Ch và anh Trần Trung H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã Tân L, huyện Tân K, tỉnh Nghệ An vào ngày 28/12/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng tại xóm Hồ Th, xã Tân L, huyện Tân K, tỉnh Nghệ An. Tháng 07/2017, chị Đặng Thị Ch đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Tháng 10/2017, anh Trần Trung H cũng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Do cuộc sống ở đất khách quê người nhiều khó khăn, lại ở cách xa về khoảng cách địa lý nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đã một thời gian dài vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Hiện nay, tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị ngày càng trầm trọng, chị Đặng Thị Ch nhận thấy không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Trung H.
Về con chung: vợ chồng có một con chung là cháu Trần Đại Q, sinh ngày 19/8/2013. Hiện cháu đang ở với ông bà nội là ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng. Nếu vợ chồng ly hôn, nguyện vọng của chị Đặng Thị Ch là được nuôi con và không yêu cầu anh Trần Trung H cấp dưỡng. Hiện nay chị đang làm việc ở Nhật Bản, chỉ được về phép 2 tháng, đến ngày 20/11/2022 chị phải sang Nhật Bản làm việc. Chị đề nghị giao cháu Q cho ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng nuôi dưỡng trong thời gian chị ở nước ngoài cho đến khi về nước. Mọi chi phí nuôi con chị sẽ gửi cho ông B, bà Ng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Đặng Thị Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Trần Trung H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Trần Trung H có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cho anh Trần Trung H thông qua ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng là bố mẹ đẻ của anh Trần Trung H; đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên tại trụ sở UBND xã Tân L, huyện Tân K, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam của anh H. Quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Trung H có về Việt Nam, anh H đã nhận được văn bản tố tụng của Tòa án nhưng hiện tại anh Trần Trung H vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
Tại Biên bản xác minh ngày 27/12/2022, ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng trình bày: ông bà là bố mẹ đẻ của anh Trần Trung H. Hiện nay anh Trần Trung H đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Anh Trần Trung H thường xuyên liên lạc về với gia đình nhưng ông, bà không biết địa chỉ cụ thể của anh H để cung cấp cho Tòa án. Ông, bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh Trần Trung H được biết. Anh Trần Trung H có ý kiến không đồng ý ly hôn chị Đặng Thị Ch; nếu phải ly hôn, anh đề nghị được nuôi con và không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Anh Trần Trung H và chị Đặng Thị Ch có một người con chung là cháu Trần Đại Q, cháu Q ở với ông bà từ khi còn nhỏ cho đến nay. Về chi phí nuôi cháu thì do bố mẹ cháu là anh H, chị Ch cung cấp, ông bà không có yêu cầu gì về vấn đề này. Nếu chị Ch, anh H ly hôn, ông bà đề nghị được tiếp tục nuôi cháu cho đến khi bố mẹ cháu về nước. Tại biên bản xác minh ngày 19/5/2023, ông Trần Đại B cho biết cách đây khoảng 20 ngày anh H có về nước thăm ông B và hiện nay đã quay trở lại Đài Loan làm việc.
Cháu Trần Đại Q trình bày: Cháu là con của bố Trần Trung H và mẹ Đặng Thị Ch. Hiện nay cháu đang ở với ông bà nội. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được ở với ông bà nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn. Tòa án đã ban hành Công văn đề nghị ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng cung cấp địa chỉ của anh Trần Trung H ở nước ngoài cho Tòa án. Căn cứ lời khai của ông B, bà Ng có cơ sở xác định bị đơn vẫn liên hệ về với gia đình và đã biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Ch nhưng bị đơn vẫn không gửi lời khai về cho Tòa án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên có cơ sở xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Ch. Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Đặng Thị Ch được ly hôn với anh Trần Trung H. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Trần Đại Q, sinh ngày 19/8/2013 cho chị Đặng Thị Ch chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn do nguyên đơn chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: chị Đặng Thị Ch không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị Đặng Thị Ch phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Công văn số 5867/QLXNC-P5 ngày 20/3/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an và lời trình bày của ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng là bố mẹ đẻ của anh Trần Trung H thì có căn cứ xác định hiện nay anh Trần Trung H đang cư trú tại nước ngoài và vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh Trần Trung H cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh H cho Tòa án. Ngày 04/5/2023, bị đơn đã trực tiếp nhận văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt tại phiên tòa theo giấy báo để trình bày ý kiến của mình. Do đó, cần xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Chị Đặng Thị Ch hiện đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Trung H đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị Đặng Thị Ch có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
2] Về quan hệ hôn nhân: chị Đặng Thị Ch và anh Trần Trung H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Theo chị Đặng Thị Ch trình bày thì tháng 7/ 2017, chị Đặng Thị Ch đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, tháng 10/2017 anh Trần Trung H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Do cuộc sống có nhiều khó khăn, lại sống xa nhau về khoảng cách địa lý nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã không còn liên lạc trong thời gian dài. Nay chị Ch xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Thông qua lời khai của ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng (bố mẹ đẻ của anh H) và chứng cứ có tại hồ sơ vụ án có cơ sở xác định anh Trần Trung H đã biết việc chị Đặng Thị Ch yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, mặc dù ông B, bà Ng trình bày anh H có ý kiến không đồng ý ly hôn với chị Ch nhưng anh H không liên lạc, không trình bày ý kiến yêu cầu Tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị Ch và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Đặng Thị Ch được ly hôn với anh Trần Trung H.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Trần Đại Q, sinh ngày 19/8/2013. Hiện cháu đang ở với ông bà nội là ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng. Chị Ch có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cả chị Đặng Thị Ch và anh Trần Trung H đều đang ở nước ngoài, tuy nhiên anh H và thân nhân của anh H không cung cấp được địa chỉ của anh H ở nước ngoài. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung chưa thành niên nên cần giao cháu Trần Đại Q cho chị Đặng Thị Ch trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị Đặng Thị Ch hiện đang ở nước ngoài, cháu Trần Đại Q hiện đang sống cùng ông bà nội là ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng, được ông bà chăm sóc chu đáo, cho học hành đầy đủ, đảm bảo sự phát triển về mọi mặt. Trong thời gian chị Đặng Thị Ch ở nước ngoài, chị Ch đề nghị giao cháu Trần Đại Q cho ông B, bà Ng chăm sóc; ông B, bà Ng cũng tự nguyện nhận trách nhiệm chăm sóc, quản lý cháu Đại Q; cháu Q cũng có nguyện vọng được ở ông bà nội. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống ổn định và quyền lợi mọi mặt cho cháu Trần Đại Q, cần ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc cháu Trần Đại Q trong thời gian chị Đặng Thị Ch ở nước ngoài. Anh Trần Trung H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thị Ch không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay anh Trần Trung H chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
Ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng là người trực tiếp quản lý, chăm sóc cháu Trần Đại Q từ khi chị Ch và anh H đi nước ngoài đến nay và tự nguyện nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc cháu cho đến khi chị Ch về nước, ông B, bà Ng không yêu cầu anh H, chị Ch thanh toán chi phí chăm sóc cháu nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Chị Đặng Thị Ch phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 37, 147, khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Đặng Thị Ch được ly hôn với anh Trần Trung H
2. Về con chung: Giao cháu Trần Đại Q, sinh ngày 19/8/2013 cho chị Đặng Thị Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đại B và bà Hoàng Thị Ng nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc cháu Trần Đại Q trong thời gian chị Đặng Thị Ch ở nước ngoài.
Anh Trần Trung H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thị Ch chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Đặng Thị Ch phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012237 ngày 20/10/2022. Chị Đặng Thị Ch đã nộp đủ án phí.
5. Chị Đặng Thị Ch và Trần Trung H đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - UBND xã Tân L, huyện Tân K; - Lưu HSVA, Tòa GĐ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |