vanban.org

Bản án 118/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vì Văn T 18 (mười tám) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 09/3/2022) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Vì Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118 /2022/HS-ST
Ngày 25-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Cầm Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

2.Bà Bồ Thị Thái

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2022/QĐXXST-HS ngày14 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Vì Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 29 tháng 12 năm 1995; tại: thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: Bản M, xã Hua La, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Vì Văn L và con bà Lèo Thị K; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 3 năm 2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 45 phút ngày 09/03/2022, Tổ công tác Công an xã Hua La, thành phố Sơn La phối hợp với Công an phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã phát hiện, bắt quả tang Vì Văn T đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma tuý.

Vật chứng thu giữ: 01 gói bằng giấy màu vàng, bên trong gói giấy 02 viên nén màu hồng đồng dạng hình tròn (T tự giác lấy trong túi quần phía trước bên phải đang mặc ra giao nộp, khai nhận là ma túy Hồng phiến bị cáo vừa mua được và cất giữ để sử dụng).

Ngày 10/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu gửi giám định chất ma túy, kết quả: 02 viên nén đồng dạng màu hồng trong gói giấy màu vàng thu giữ khi bắt quả tang Vì Văn T có tổng khối lượng là 0,18 gam, lấy ra 01 viên nén đồng dạng hình tròn màu hồng có khối lượng 0,09 gam làm mẫu giám định ký hiệu là T, số còn lại 01 viên nén đồng dạng hình tròn màu hồng có khối lượng 0,09 gam làm mẫu lưu kho cho vào túi nilon màu trắng dán kín lại ký hiệu H. Cùng ngày cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La ra quyết định trưng cầu giám định số 42/ QĐ-ĐCSKT,MT đối với mẫu có ký hiệu T thu giữ của Vì Văn T.

Ngày 11/3/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La có Kết luận giám định số 451/KL-KTHS kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam; loại Methamphetamine”. mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra bị cáo Vì Văn T khai nhận: Do bản thân sử dụng chất ma túy nên khoảng 18 giờ 00 phút ngày 09/3/2022, Vì Văn T đi bộ từ nhà ở bản Mòng, xã Hua La, thành phố Sơn La đến khu vực bản Kham, xã Hua La, thành phố Sơn La thì gặp một người phụ nữ (không biết tên tuổi, địa chỉ) qua trao đổi nói chuyện T và người phụ nữ đó thống nhất góp tiền đi mua ma túy về sử dụng chung. Sau đó cả hai bắt xe Taxi đi đến khu vực cổng bến xe khách Sơn La thuộc tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, T đưa cho người phụ nữ đó 100.000đ (một trăm nghìn đồng) để mua ma túy về sử dụng. Khoảng 5 phút sau người phụ nữ đó quay lại và đưa cho T 01 gói giấy màu vàng bên trong có chứa 02 viên nén đồng dạng hình tròn màu hồng, T cầm gói giấy màu vàng và đút vào túi quần phía trước bên phải đang mặc và đứng đợi người phụ nữ đó đi có việc và hẹn sẽ quay lại để cùng tìm nơi sử dụng. Khi T đang đứng đợi thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án, bị cáo khai nhận là của bị cáo và một người phụ nữ (không biết tên, tuổi, địa chỉ) góp tiền mua để cùng nhau sử dụng vào ngày 09/3/2022 tại khu vực cổng Bến xe khách Sơn La thuộc tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, ngoài lời khai của bị cáo không có nguồn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở mở rộng vụ án.

Tại bản cáo trạng số:181/CT-VKSTP ngày 13/6/2022, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Vì Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Vì Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bi ̣ cáo Vì Văn T từ 15 đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố Sơn La phát hành, còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “ Vật chứng lưu kho vụ Vì Văn T, sinh năm 1995 - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 09/3/2022. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 1 mảnh giấy màu vàng; Mẫu lưu kho ký hiệu H= 0,09 gam”, mặt sau phong bì tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong, trên giấy dán niêm phong có dòng chữ “ GIẤY NIÊM PHONG – CÔNG AN TỈNH SƠN LA”, số 083041 và 01 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La cùng chữ ký và dòng ghi họ tên của thành phần tham gia niêm phong của Cầm Nguyên, Nguyễn Việt Hoàng, Nguyễn Thị Chung, Phạm Kiên Trung, Trần Đức Dương, đối tượng Vì Văn T và ghi dòng chữ “ Cơ quan CSĐT – CATP Sơn La hồi14 giờ 40 phút ngày 10/3/2022 tại CATP Sơn La”.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Vì Văn T nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát , đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thể hiện:

Ngày 09/3/2022, Vì Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,18 gam chất ma túy là Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo Vì Văn T giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

- Lời khai nhận tội của bị cáo;

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 09/3/2022 tại tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Vì Văn T cùng vật chứng thu giữ là 01 gói màu vàng, bên trong gói giấy có 02 viên nén đồng dạng hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,18 gam.

- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 451 ngày 11/3/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Trần Đức D, sinh năm 1968, HKTT: tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.

Từ các căn cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ trái phép 0,18 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Vì Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Vì Văn T có hành vi tàng trữ 0,18 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng, khối lượng ma túy bị thu giữ trong vụ án là 0,18 gam thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà Nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo , trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vì Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ông nội là Vì Văn Hặc, bà nội là Vì Thị Ỳ đều được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ:

Bị cáo khai nhận là của bị cáo và một người phụ nữ (không biết tên, tuổi, địa chỉ) góp tiền mua để cùng nhau sử dụng vào ngày 09/3/2022 tại khu vực cổng Bến xe khách Sơn La thuộc tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, ngoài lời khai của bị cáo không có nguồn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở mở rộng vụ án. Do đó buộc bi ̣ cáo Vì Văn T phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

Vật chứng vụ án:

Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu vàng, mẫu lưu H= 0,09 gam” là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểma a, c điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về án phí: Buộc bị cáo Vì Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vì Văn T 18 (mười tám) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 09/3/2022)

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2.Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố Sơn La phát hành, còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “ Vật chứng lưu kho vụ Vì Văn T, sinh năm 1995 - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 09/3/2022. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 1 mảnh giấy màu vàng; Mẫu lưu kho ký hiệu H= 0,09 gam”, mặt sau phong bì tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong, trên giấy dán niêm phong có dòng chữ “ GIẤY NIÊM PHONG – CÔNG AN TỈNH SƠN LA”, số 083041 và 01 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La cùng chữ ký và dòng ghi họ tên của thành phần tham gia niêm phong của Cầm Nguyên, Nguyễn Việt Hoàng, Nguyễn Thị Chung, Phạm Kiên Trung, Trần Đức Dương, đối tượng Vì Văn T và ghi dòng chữ “ Cơ quan CSĐT – CATP Sơn La hồi14 giờ 40 phút ngày 10/3/2022 tại CATP Sơn La”.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/6/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14:

Buộc bị cáo Vì Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Vì Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/7/2022).

Cỡ chữ