- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Triệu Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2022/HS-ST Ngày: 08/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Mai
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Trung Tuyến
2. Bà Nông Thị Duyên
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:
Triệu Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/11/1988 tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm Nà Tổng, xã L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12 phổ thông; Con ông: Triệu Văn B - sinh năm 1955; Con bà: Đinh Thị M - sinh năm 1959 (HKTT: xóm Nà Tổng, xã L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng); Anh, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị T - sinh năm 1995; Con: 01 con sinh năm 2016 (HKTT: xóm Nà Tổng, xã L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng).
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 15/6/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thảo – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Cao Bằng; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ 30' ngày 15/6/2022, Triệu Văn T đi bộ từ Chợ Xanh thành phố Cao Bằng đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp và hỏi mua 200.000 (hai trăm nghìn) đồng với 01 (một) người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ). Người đàn ông đó đồng ý. T đưa tiền, người đàn ông cầm tiền và lấy từ trong người ra 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa heroine đưa cho T. T nhận và cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi đi bộ đến khu vực tổ 07, phường T, thành phố Cao Bằng thì bị tổ công tác Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột có khối lượng 0,15 (không phảy mười lăm) gam do T tự giác giao nộp.
Ngày 15/6/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 142 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số: 132/KL-KTHS ngày 22/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Hành vi của Triệu Văn T đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số: 106/CT-VKSTP ngày 08/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Triệu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Triệu Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến và nhất trí với khối lượng ma túy bị cáo bị thu giữ cũng như kết luận giám định số: 132/KL-KTHS ngày 22/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Bị cáo khai nhận ngoài số ma túy bị cáo không bị thu giữ tài sản gì khác.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Triệu Văn T; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi tang vật cân vụ Triệu Văn T, sinh năm 1988 (HKTT: xóm Nà Tổng, xã L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 15/6/2022.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn phù hợp. Do đó, về tội danh và điều luật áp dụng với bị cáo, người bào chữa không có ý kiến gì. Tuy nhiên, trước khi xem xét lượng hình đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét một số vấn đề:
Thứ nhất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo T tàng trữ trái phép 0,15g heroine, là mức khối lượng khởi điểm của khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Thứ hai, nhân thân của bị cáo: Bị cáo T là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; sinh ra trong gia đình đông anh em có hoàn cảnh khó khăn; trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật cũng như những hiểu biết xã hội của bị cáo có phần nhiều hạn chế nên bị cáo đã bị rủ rê, lôi kéo vào con đường nghiện ngập, mục đích bị cáo mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích nào khác. Cho đến thời điểm phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi bị bắt, được giải thích bị cáo đã vô cùng hối hận nên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn, hối cải.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt là 12 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Bị cáo không có ý kiến bổ sung đối với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh: Tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định; vật chứng cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 08 giờ 40 phút ngày 15/6/2022 tại khu vực tổ 07, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, Triệu Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,15 (không phảy mười lăm) gam heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến
chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Triệu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a,..
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Triệu Văn T là người nghiện ma túy (heroine) và là người chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về hình phạt chính:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Triệu Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma túy (heroine), không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,15 (không phảy mười lăm) gam heroine. Mức đề nghị khởi điểm 12 tháng tù của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng cũng đủ tính răn đe và tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo hưởng mức hình phạt 12 tháng tù là có căn cứ nên được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về những vấn đề khác: Về nguồn gốc số heroine bị thu giữ, T khai mua với một người đàn ông khoảng 40 tuổi tại cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng. Do không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể và việc trao đổi không ai biết nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng không có đủ căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi tang vật cân vụ Triệu Văn T, sinh năm 1988; HKTT: xóm Nà Tổng, xã L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bắt ngày 15/6/2022 là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 15/6/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi tang vật cân vụ Triệu Văn T, sinh năm 1988; HKTT: xóm Nà Tổng, xã L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 15/6/2022. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong kèm Kết luật giám định ma túy số 132/KL-KTHS ngày 22 tháng 6 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 10 ngày 21/10/2022.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc bị cáo Triệu Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quỳnh Mai |