vanban.org

Bản án 118/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 05/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2022/HS-ST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với bị cáo L.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội Đánh bạc. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 11 (mười một) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 22 (hai mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05/12/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị L phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2022/HS-ST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với bị cáo L.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2022/HS-PT
Ngày 05/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết

Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Hiệu và ông Bùi Đăng Huy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 147/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thị L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2022/HS-ST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị L, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị N; có chồng nhưng đã ly hôn và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPVPHC ngày 17/01/2019, bị Công an huyện K phạt tiền về hành vi Khai thác khoáng sản trái phép. Bị cáo hiện tại ngoại. Có mặt.

Vụ án còn có 04 bị cáo khác không có kháng cáo và Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 23/3/2022, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn L1 và Phạm Văn D lần lượt đến quán ăn P tại thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương để chơi và ăn cơm. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi L, H, L1, T và D ngồi chơi trước cửa phòng nghỉ của nhân viên quán thì nhìn thấy trong góc phòng bên phải (từ ngoài vào) có một bộ bài tú khơ khơ 52 quân nên cùng bảo nhau đánh “sâm” được thua bằng tiền. Ngay lúc đó L, H, L1, T và D vào phòng rồi cùng ngồi xuống sàn nhà, L lấy bộ bài có sẵn ở góc phòng chia cho mỗi người 10 quân bài. Hình thức chơi mỗi ván: Mỗi người được chia 10 quân bài, số quân bài còn lại úp xuống; người chia bài hỏi xem có ai xin sâm không, nếu không có người nào xin sâm thì người chia bài được đánh trước lần lượt theo chiều ngược chiều kim đồng hồ, từ quân bài nhỏ đến quân bài lớn không phân biệt chất rô, cơ, bích, tép (quân bài 2 lá lớn nhất, quân bài át lớn thứ 2). Nếu người nào đánh hết quân bài trên tay trước thì người đó thắng, những người còn lại mỗi người trả cho người thắng 10.000 đồng/01 lá bài còn lại trên tay. Nếu ai còn nguyên 10 quân bài (gọi là cháy) thì người đó phải trả cho người thắng 200.000 đồng. Quá trình chơi nếu thấy bài của mình đánh ra sẽ không ai chặn thì người chơi có thể “báo sâm”, nếu báo sâm thành công thì người đó thắng thì những người còn lại mỗi người phải trả 300.000 đồng. Ngược lại, nếu báo sâm mà có người chặn được bài thì người báo sâm phải trả cho người chơi đã chặn được bài của mình 600.000 đồng.

Khi đánh “sâm” L có 2.600.000 đồng, H có 6.000.000 đồng, L1 có 3.500.000 đồng, T có 3.000.000 đồng và D có 2.000.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Khoảng 11 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Văn Nam đến quán ăn cơm thấy L, H, L1, T và D đang đánh bạc nên vào ngồi xem. L, H, L1, T và D đánh bạc đến 11 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 17.100.000 đồng, tiền thu dưới nền nhà trước vị trí ngồi các đối tượng là 13.460.000 đồng, thu trong người D 430.000 đồng, L1 710.000 đồng và L 2.500.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2022/HS-ST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương đã căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị L; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội Đánh bạc; Xử phạt bị cáo L 13 tháng tù. Ngoài ra, bản án còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn T, Phạm Văn D; quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/9/2022 bị cáo Nguyễn Thị L kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị L về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo L được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo L đã tự nguyện nộp án phí và tiền phạt theo quyết định của bản án sơ thẩm và giao nộp tài liệu thể hiện bị cáo tích cực tham ủng hộ quỹ phòng chống Covid-19 tại địa phương nên bị cáo được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào số tiền của bị cáo L dùng vào việc đánh bạc và diễn biến quá trình đánh bạc của bị cáo và các đồng phạm khác thì có căn cứ xác định bị cáo L ở vị trí thứ 4 trong vụ án. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L. Sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 13 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Lời khai của bị cáo Nguyễn Thị L tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo và các bị cáo khác tại cấp sơ thẩm, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 10 giờ 30 phút đến 11 giờ 15 phút ngày 23/3/2022, tại quán ăn P có địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn T và Phạm Văn D đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh sâm, được thua bằng tiền thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài và tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 17.100.000 đồng. Hành vi của các bị cáo L, H, L1, T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị L về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về tội danh bị cáo L không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L xin được hưởng án treo thì thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo L như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trong theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp xong tiền án phí và tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm, đồng thời xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo tích cực tham gia ủng hộ quỹ phòng chống covid-19 tại địa phương nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định, đánh giá chưa đúng về vị trí, vai trò, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo L và các đồng phạm, đã xác định bị cáo L ở vị trí, vai trò đầu trong vụ án đánh bạc là chưa chính xác vì trong cùng khoảng thời gian đánh bạc từ 10 giờ 30 phút đến 11 giờ 15 phút ngày 23/3/2022, tại quán ăn P, các bị cáo cùng nhau thống nhất đánh bạc với hình thức “đánh Sâm”, bị cáo L sử dụng bộ bài đã có sẵn tại quán để chia ván bài đầu tiên nên phải căn cứ vào số tiền các bị cáo đã dùng đánh bạc để xác định vị trí, vai trò, tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo mới đúng. Cần xác định bị cáo H giữ vị trí đầu vụ, bị cáo L1 giữ vị trí thứ 2, các bị cáo L và T giữ vai trò thứ 3, bị cáo D giữ vị trí cuối.

Xét bị cáo L lần đầu phạm tội, thể hiện ý thức ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, hoàn cảnh gia đình khó khăn, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và là bị cáo có vị trí thứ 3 trong vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết chấp hành và tuân thủ pháp luật, đồng thời thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2022/HS-ST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với bị cáo L.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội Đánh bạc.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 11 (mười một) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 22 (hai mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05/12/2022).

Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Thị L đã tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung là 10.000.000 (Mười triệu) đồng và số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0001006 ngày 28/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Hải Dương.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Cỡ chữ