vanban.org

Bản án 118/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 29/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Ngân hàng TW SMBC (VPB SMBC FC). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty X - BS"
  • Tòa quyết gì? 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 118/2022/DS-ST
Ngày: 29 - 9 - 2022
V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Phan Trọng Điền;

- Ông Nguyễn Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố K, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên toà: Bà

Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố K xét xử sơ

thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2022/TLST-DS ngày 19 tháng 5 năm

2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử

số: 186A/2022/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên

tòa số 134/2022/QĐST-DS ngày 14 tháng 9 năm 2022, giữa:

Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH Ngân hàng TW SMBC; trụ sở

chính: phường 13, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

- Ông Lô Bằng Giang, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty tài

chính TNHH Ngân hàng TW SMBC, là người đại diện theo pháp luật.

- Ông Trần Hữu Ý, chức vụ: Nhân viên Công ty luật TNHH MTV Đại

Long; địa chỉ: Quận N, thành phố Cần Thơ, là người đại diện theo ủy quyền theo

văn bản ủy quyền số 10/UQTT-DLO.2022 ngày 05/5/2022; (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị BS, sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ 08, khóm Châu

Thới 1, phường Châu Phú B, thành phố K, tỉnh An Giang; tạm trú: số 773, khóm

V, phường V, thành phố K, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án,

nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 07/9/2019, bà Nguyễn Thị BS có ký hợp đồng tín dụng số

20190916-000368 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng TW SMBC (sau đây gọi tắt là Công ty tài chính SMBC) vay số tiền 26.375.000 đồng; lãi suất 5%/tháng; mục đích vay tiêu dùng cá nhân; thời hạn vay 18 tháng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng bà BS có trách nhiệm thanh toán số tiền 39.706.285 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 18 tháng, 17 tháng đầu mỗi tháng trả 2.256.282 đồng, tháng cuối cùng trả 1.349.491 đồng, bắt đầu trả từ ngày 02/10/2019.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà BS đã trả được số tiền 6.805.000 đồng,

kể từ ngày 07/12/2019 đến nay bà BS không thực hiện đúng cam kết về việc trả nợ gốc, lãi mặc dù đã được công ty tài chính nhắc nhở nhiều lần.

Do đó, Công ty tài chính SMBC khởi kiện yêu cầu bà BS có nghĩa vụ

thanh toán số tiền là 32.901.285 đồng.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện là: Văn bản Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng ngày 07/9/2019; bảng kế hoạch trả nợ; lịch sử thanh toán và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bà Nguyễn Thị BS đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong

suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như

đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự chấp

hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án thấy rằng, thỏa thuận vay nợ giữa Công ty tài chính TNHH Ngân hàng TW SMBC với bà Nguyễn Thị BS được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật. Tòa án đã tiến hành giao nhận các thủ tục tố

tụng, yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính nhưng bà BS không có ý kiến

phản hồi. Cho nên, Công ty tài chính khởi kiện yêu cầu bà BS trả 32.901.285

đồng là có căn cứ.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng

năm 2010; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận toàn bộ

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận

định như sau:

* Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty tài chính SMBC khởi kiện

yêu cầu bà Nguyễn Thị BS trả nợ vay. Bà BS đang cư trú trên địa bàn thành phố

K nên yêu cầu kiện của Công ty tài chính SMBC thuộc thẩm quyền giải quyết

của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a

khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng

vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b

khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành

xét xử vắng mặt bị đơn.

* Về nội dung:

Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng tín dụng:

Công ty tài chính SMBC cho rằng, vào ngày 07/9/2019, bà Nguyễn Thị

BS có vay của Công ty tài chính SMBC số tiền 26.375.000 đồng, thời hạn vay

18 tháng, lãi suất 5%/tháng. Hai bên có xác lập văn bản đề nghị vay vốn kiêm

Hợp đồng tín dụng ngày 07/9/2019, thỏa thuận số tiền phải trả theo hợp đồng là

39.706.285 đồng (gồm cả gốc và lãi). Sau khi vay, bà BS trả được số tiền

6.805.000 đồng và không tiếp tục trả nợ, mặc dù, Công ty tài chính SMBC đã

nhiều lần yêu cầu trả nợ.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án có ban hành Thông báo số

67/2022/TB-TA ngày 05/7/2022 yêu cầu trình bày lời khai, giao nộp tài liệu,

chứng cứ đối với nội dung sự việc và yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính

SMBC nhưng bà BS không thực hiện.

Vì vậy, có căn cứ xác định, bà BS vay của Công ty tài chính SMBC số

tiền 26.375.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, thời hạn vay 18 tháng, số tiền phải trả

theo hợp đồng là 39.706.285 đồng; bà BS đã trả được 6.805.000 đồng.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Do bà BS vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty tài chính SMBC khởi kiện

yêu cầu bà BS trả nợ là phù hợp với nội dung hợp đồng tín dụng đã ký kết, quy định tại các Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Vì vậy, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính

SMBC; buộc bà BS trả cho Công ty tài chính SMBC 32.901.285 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà BS phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho

Công ty tài chính SMBC là 1.645.064 đồng.

Công ty tài chính SMBC không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại

cho Công ty tài chính SMBC số tiền tạm ứng án phí 823.000 đồng đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-

2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH

Ngân hàng TW SMBC (VPB SMBC FC).

Buộc bà Nguyễn Thị BS trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng TW

SMBC (VPB SMBC FC) số tiền 32.901.285 (ba mươi hai triệu, chín trăm lẻ một nghìn, hai trăm tám mươi lăm) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan

thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị BS phải chịu 1.645.064 (một triệu, sáu trăm bốn mươi

lăm nghìn, không trăm sáu mươi bốn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty tài chính TNHH Ngân hàng TW SMBC (VPB SMBC FC) không

phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng TW SMBC (VPB SMBC FC) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 823.000 (tám trăm hai mươi ba nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số

0002205 ngày 19 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố

Châu Đốc, tỉnh An Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Công ty tài chính TNHH Ngân

hàng TW SMBC (VPB SMBC FC) có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân

dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị BS được tính là 15 ngày kể

từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ