vanban.org

Bản án 118/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở và chất bột màu trắng có khối lượng 0,06 gam; 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thái Ngọc T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2021/HS-ST
Ngày 15 tháng 4 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Yên, ông Tường Duy Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n Mộc Châu , tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2021/TLST - HS ngày 01 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2021/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Thái Ngọc T, sinh năm 1993 tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản H, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Thái Ngọc H, sinh năm 1967, con bà Hà Thị H, sinh năm 1968; chưa có vợ con; tiền sự: Không, có 02 tiền án:

Tại bản án số 44/HSST/2017 ngày 16/01/2017 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt ngày 08/02/2018.

Tại bản án số 04/HSST/2018 ngày 25/12/2018 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt ngày 11/10/2020, chưa thi hành xong bồi thường dân sự (Chưa được xóa án tích).

Về nhân thân: Ngày 25/5/2010 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Đã được xóa án tích).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2021 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân nghiện chất ma túy và đang làm nhân viên quán Karaoke Thảo Nguyên Xanh tại tiểu khu Bó Bun, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu. Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 14/01/2021 Thái Ngọc T đi bộ đến ngã tư thuộc tiểu khu Bó Bun mục đích tìm mua ma túy sử dụng, đến nơi T gặp và mua được 01 gói Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 50.000 đồng, có được ma túy T cầm trên tay rồi đi về, trên đường về thì bị tổ công tác Công an thị trấn Mộc Châu kiểm tra, bắt quả tang thu giữ: 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là Heroine.

Ngày 14/01/2021, cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu tiến hành xác định khối lượng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Thái Ngọc T được 0,13 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T.

Tại kết luận giám định số 350 ngày 15/01/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Heroine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,13 gam; tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,13 gam, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng có khối lượng 0,06 gam.

Bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La truy tố Thái Ngọc T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Thái Ngọc T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Thái Ngọc T từ 06 năm đến 06 năm, 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở và chất bột màu trắng có khối lượng 0,06 gam; 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu trắng có dòng kẻ + vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì đựng Test thử ma túy của Thái Ngọc Trường.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát. Bị cáo có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Thái Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị thu giữ là Heroine, có tổng khối lượng 0,13 gam, nguồn gốc do bị cáo mua của người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, để sử dụng cho bản thân. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu lập hồi 00 giờ 20 phút, ngày 14/01/2021; biên bản thu giữ vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định, bản kết luận giám định số 350 ngày 15/01/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận là chất ma túy, loại Heroine. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ.

3 Khung hình phạt áp dụng: Xét thấy tại bản án số 04/2018/HSST ngày 25 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g “Tái phạm” khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Thái Ngọc T 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đến thời điểm phạm tội mới chưa được xóa án tích. Xác định lần phạm tội này là tình tiết định khung hình phạt, do vậy hành vi của bị cáo Thái Ngọc T tàng trữ 0,13 gam Heroine đã vi phạm điểm o “Tái phạm nguy hiểm”, khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích nhưng xác định là tình tiết định khung nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội, mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

4 Về hì nh phạ t bổ sung : Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.

5 Về vật chứng:

Đối với: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở và chất bột màu trắng có khối lượng 0,06 gam; 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu trắng có dòng kẻ + vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì đựng Test thử ma túy của Thái Ngọc T. Xét là vật bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cùng vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

6 Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo đã khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, do đó không có căn cứ điều tra làm rõ, vì vậy buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

7 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Thờ i hạ n tạ m giam của bị cá o còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam 45 ngày sau phiên tòa để đảm cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Thái Ngọc T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Thái Ngọc T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở và chất bột màu trắng có khối lượng 0,06 gam; 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu trắng có dòng kẻ + vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì đựng Test thử ma túy của Thái Ngọc T.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Thái Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ