- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Hưng A xin ly hôn chị Nguyễn Thị Phương L"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------------------------------- Bản án số: 118/2020/HNGĐ-ST Ngày: 13-3-2020 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Thịnh Quang Thắng.
Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Hữu Đệ
2/ Bà Hoàng Thị Hòa
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hồng Chiêm – Kiểm sát viên.
Ngày 13/3/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 16/2020/TLST – HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2020 về việc “tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/02/2020. Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2020/QĐST ngày 04/3/2020. Giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Đoàn Hưng A, sinh năm 1981; cư trú tại: Khu C, xã V, huyện Đ, Hà Nội; Có mặt
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1983; HKTT: Khu C, xã V, huyện Đ, Hà Nội; Chỗ ở: Thôn C, xã H, huyện Đ, Hà Nội; Có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 06/01/2020, các lời khai bổ sung, anh Đoàn Hưng A - nguyên đơn trình bày:
- Về tình cảm: Anh với chị Nguyễn Thị Phương L kết hôn ngày 05/10/2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Đ, Hà Nội. Sau khi kết hôn chị L về ở chung với gia đình anh tại Khu C, xã V, huyện Đ, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến ngày 05/10/2017 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế. Sau đó gia đình hai bên đã hòa giải thì vợ chồng đoàn tụ và chung sống đến tháng 5/2018 thì chị L về nhà mẹ đẻ ở tại thôn C, xã H, huyện Đ. Chị L ăn ở và sinh sống tại nhà mẹ đẻ chị L từ đó cho đến nay. Hai bên gia đình nội ngoại cũng đã nói chuyện hàn gắn tình cảm của vợ chồng anh chị nhưng vợ chồng anh chị không hàn gắn được. Hai vợ chồng cũng ly thân từ đó cho đến nay, không ai còn quan tâm, chăm sóc trách nhiệm với nhau. Nay anh xác định anh không còn tình cảm với chị L. Anh xin ly hôn chị L.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đoàn Anh V, sinh ngày 25/7/2008. Hiện nay con chung đang ở cùng với chị L tại Hải Bối, huyện Đông Anh, Hà Nội. Ly hôn nếu chị L có nguyện vọng nuôi con thì anh cũng nhất trí để chị L nuôi dưỡng con chung. Còn nếu chị L không nuôi con thì anh có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập nhiều lần chị Nguyễn Thị Phương L là bị đơn đến Tòa án làm việc nhưng chị L không có mặt. Chị L đã vắng mặt toàn bộ trong quá trình giải quyết, hòa giải nên Tòa án không ghi được ý kiến của chị L. Ngày 19/02/2020, chị L có gửi ý kiến của chị về việc chị đồng ý ly hôn anh Hưng A; về con chung: chị có nguyện vọng nuôi con chung; về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết và xin vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa:
+ Anh Hưng A vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn chị L ; Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Đoàn Anh V, sinh ngày 25/7/2008, ly hôn, anh nhất trí để chị L nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết và vấn đề cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Anh Hưng A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đối với nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà hôm nay đã chấp hành tốt pháp luật không phải nhắc nhở, kiến nghị gì. Bị đơn không chấp quy định pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án nên cần kiến nghị, nhắc nhở.
- Về nội dung vụ án:
+ Sau khi phân tích các tình tiết nội dung của vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy căn cứ xin ly hôn của anh Hưng A là hợp pháp, việc anh Hưng A xin ly hôn chị L, chị L đồng ý là hoàn toàn tự nguyện nên được chấp nhận.
+ Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Đoàn Anh V, sinh ngày 25/7/2008. Ly hôn, giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Các đương sự không yêu cầu xem xét giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
+ Về án phí: Anh Hưng A phải chịu cả
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật:
Anh Hưng A kết hôn với chị Nguyễn Thị Phương L ngày 05/10/2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Đ, Hà Nội. Chị L hiện đang cư trú tại thôn C, xã V, huyện Đ, Hà Nội. Do vậy, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đến phiên tòa cho chị Nguyễn Thị Phương L, nhưng chị L có đơn xin vắng mặt. Do vậy Toà án nhân dân huyện Đông Anh tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Phương L là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về quan hệ vợ chồng: Anh Hưng A và chị Nguyễn Thị Phương L kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Đ, Hà Nội. Quá trình chung sống đến tháng 10/2017 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế. Vợ chồng anh Hưng A, chị L đã ly thân nhiều năm nay. Nay anh Hưng A xin ly hôn, chị L đồng ý. Xét thấy anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Gia đình hai bên cũng đã hòa giải vợ chồng nHưng Anh chị không thể hàn gắn được mà vẫn mỗi người ở một nơi. Từ phân tích trên cho thấy mâu thuẫn giữa anh Hưng A và chị L đã quá căng thẳng và trầm trọng không thể hàn gắn được, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc anh Hưng A xin ly hôn với chị L là có căn cứ và phù hợp qui định của pháp luật nên được chấp nhận là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh Hưng A, chị L có 01 con chung là Đoàn Anh V, sinh ngày 25/7/2008. Nay con chung đang ăn ở, học tập và sinh sống với chị L. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh Hưng A nhất trí.
Xét yêu cầu nuôi con của chị L: Hiện nay chị L vẫn đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cháu V đã ăn ở sinh sống ổn định với chị L và vẫn do chị L chăm sóc từ năm 2018 đến nay. Anh Hưng A cũng nhất trí để chị L nuôi dưỡng con chung. Từ những căn cứ trên, căn cứ vào thực tế, để đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ về thể chất và tinh thần. Do đó, giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 luật hôn nhân và gia đình
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Hưng A không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Tòa án không xem xét giải quyết việc cấp dưỡng nuôi chung cho đến khi nào các con thành niên hoặc có sự thay đổi khác.
Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Anh Hưng A, chị L đều có ý kiến không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Hưng A phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điểm 1.1 mục 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết).
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đoàn Hưng A đối với chị Nguyễn Thị Phương L. Anh Đoàn Hưng A được ly hôn chị Nguyễn Thị Phương L.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Anh V, sinh ngày 25/7/2008 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Đoàn Hưng A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các bên không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Các bên không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
4. Về án phí: Anh Đoàn Hưng A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai số AA/2018/0015165 ngày 13/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh. Anh Hưng A đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Án xử công khai sơ thẩm. Anh Đoàn Hưng A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Phương L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKS Đông Anh - THA Đông Anh. - TAND thành phố Hà Nội - UBND xã V - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thịnh Quang Thắng |