- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NH Kiên Long - Quách Thị Khế, Nguyễn Văn Huệ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đối với bà Quách Thị Kh, anh Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2020/DS-ST Ngày: 26-9-2020 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Hải
2. Ông Nguyễn Văn Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Lưu Quốc Phú – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2020/TLST-DS ngày 15 tháng 6 năm 2020 về“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2020/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (tên viết tắt: K BANK)
Địa chỉ: Số X, P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn A
Chức vụ: Tổng Giám đốc
Đại diện theo quyền: Ông Lý Quốc L (có mặt)
Chức vụ: Tổ trưởng Tổ tín dụng Ngân hàng TMCP K – Phòng Giao dịch T
Địa chỉ: Số X tổ Y, KV.P, phường T, quận T, TP.Cần Thơ.
(Theo văn bản ủy quyền số: 12/UQ-NHKL ngày 02/7/2020)
2. Bị đơn: 01. Bà Quách Thị Kh, sinh năm 1949 (vắng mặt)
02. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp Th, xã Tr, H.C, TP.Cần Thơ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Quách Thị Đan Tr, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Th, xã Tr, huyện C, TP.Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K ủy quyền cho ông Lý Quốc L trình bày:
Vào ngày 22/02/2011 Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (tên viết tắt: K BANK) và bà Quách Thị Kh, anh Nguyễn Văn H ký hợp đồng tín dụng số: HD0782/HĐTD với nội dung K BANK cho bà Kh, anh H vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất 1,8%/tháng, mục đích vay là bổ sung vốn nuôi cá rô, thời hạn vay 12 tháng (từ ngày giải ngân 26/02/2011 đến ngày 26/02/2012).
Để đảm bảo cho số tiền vay nêu trên, bà Kh, anh H được sự đồng ý của thành viên trong hộ là chị Quách Thị Đan Tr (con bà Kh) đã thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp Th, xã Tr, huyện C, thành phố Cần Thơ (vào sổ cấp GCNQSDĐ số CH00027 do UBND huyện Cờ Đỏ cấp ngày 29/12/2009 cho hộ bà Quách Thị Kh) cho K BANK bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HD0782/HĐTC ngày 22/02/2011.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng và đến hết thời hạn vay, bà Kh, anh H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ vay cho K BANK nên K BANK đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở, yêu cầu bà Kh, anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay nhưng bà Kh, anh H vẫn không thực hiện. Tính đến ngày 26/9/2020, bà Kh, anh H nợ K BANK số tiền 299.516.000 đồng (trong đó nợ gốc 20.000.000đ; nợ lãi quá hạn 279.516.000đ). Cho nên, K BANK khởi kiện yêu cầu:
- Yêu cầu bà Kh, anh H trả số tiền tính đến ngày 26/9/2020 là 299.516.000 đồng (trong đó nợ gốc 20.000.000đ; nợ lãi quá hạn 279.516.000đ). Không yêu cầu tính lãi phạt chậm trả lãi.
- Yêu cầu bà Kh, anh H phải tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng số: HD0782/HĐTD ngày 22/02/2011, kể từ ngày 27/9/2020 đến khi thanh toán xong nợ. Không yêu cầu tính lãi phạt chậm trả lãi.
- Trường hợp bà Kh, anh H không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần K có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp Th, xã Tr, huyện C, thành phố Cần Thơ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HD0782/HĐTC ngày 22/02/2011 và tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ.
Bị đơn bà Quách Thị Kh vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại tờ tự khai và phiên hòa giải trình bày:
Thừa nhận vào ngày 22/02/2011 K BANK và bà, anh Nguyễn Văn H (con trai bà) có ký hợp đồng tín dụng số: HD0782/HĐTD với nội dung K BANK cho bà, anh H vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất 1,8%/tháng, mục đích vay là bổ sung vốn nuôi cá rô, thời hạn vay 12 tháng (từ ngày giải ngân 26/02/2011 đến ngày 26/02/2012).
Để đảm bảo cho số tiền vay nêu trên, bà, anh H được sự đồng ý của thành viên trong hộ là chị Quách Thị Đan Tr (con bà) đã thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp Th, xã Tr, huyện C, thành phố Cần Thơ (vào sổ cấp GCNQSDĐ số CH00027 do UBND huyện Cờ Đỏ cấp ngày 29/12/2009 cho hộ bà Quách Thị Kh) cho K BANK bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HD0782/HĐTC ngày 22/02/2011.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng và đến hết thời hạn vay do làm ăn bị thua lỗ nên không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ vay cho K BANK. Tính đến ngày 27/8/2020, bà, anh H còn nợ K BANK số tiền 298.916.000 đồng (trong đó nợ gốc 20.000.000đ; nợ lãi quá hạn 278.916.000đ). Nay K BANK khởi kiện bà, anh H, bà có ý kiến như sau:
- Đồng ý trả cho Ngân hàng TMCP Kiên Long số tiền tính đến ngày 27/8/2020 là 298.916.000 đồng (trong đó nợ gốc 20.000.000đ; nợ lãi quá hạn 278.916.000đ). Nhưng xin đến cuối tháng 8 trả toàn bộ nợ gốc, còn lãi xin trả 4.000.000 đồng/tháng đến khi nào hết nợ.
+ Đối với yêu cầu tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng số: HD0782/HĐTD ngày 22/02/2011, kể từ ngày 28/8/2020 đến khi thanh toán xong nợ. Lãi này bà xin miễn, không phải tính nữa.
+ Trường hợp không trả hoặc trả không đầy đủ thì đồng ý cho phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp Th, xã Tr, huyện C, thành phố Cần Thơ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HD0782/HĐTC ngày 22/02/2011 và tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của K BANK.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Quách Thị Đan Tr không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của K BANK.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn bà Quách Thị Kh từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Quách Thị Đan Tr không thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần K và bà Quách Thị Kh, anh Nguyễn Văn H có ký kết hợp đồng tín dụng số: HD0782/HĐTD và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HD0782/HĐTC cùng ngày 22/02/2011 để vay vốn và thế chấp tài sản nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ trên cơ sở đồng ý của thành viên trong hộ là chị Quách Thị Đan Tr. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Kh, anh H đã không thực hiện đúng nghĩa vụ, chỉ trả cho Ngân hàng một phần vốn gốc và lãi nên Ngân hàng khởi kiện bà Kh, anh H là đúng quy định pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K khởi kiện bà Quách Thị Kh, anh Nguyễn Văn H có địa chỉ tại ấp Th, xã Tr, huyện C, thành phố Cần Thơ trả số tiền vay còn nợ theo hợp đồng tín dụng nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thủ tục tố tụng: Khi tiến hành xét xử bà Quách Thị Kh, anh Nguyễn Văn H, chị Quách Thị Đan Tr được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Kh, anh H, chị Tr theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
K BANK khởi kiện yêu cầu bà Kh, anh H trả số tiền tính đến ngày 26/9/2020 là 299.516.000 đồng (trong đó nợ gốc 20.000.000đ; nợ lãi quá hạn 279.516.000đ) theo hợp đồng tín dụng số: HD0782/HĐTD ngày 22/02/2011. Bà Kh thừa nhận còn nợ K BANK số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 27/8/2020 là 298.916.000 đồng, bà đồng ý cùng anh H trả cho K BANK số tiền này, nhưng xin trả gốc vào cuối tháng 8/2020, còn lãi xin trả dần mỗi tháng 4.000.000 đồng cho đến khi nào hết nợ. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H đến để làm rõ vụ án, về việc có hay không việc anh cùng bà Kh ký hợp đồng tín dụng để vay K BANK số tiền 150.000.000 đồng đồng với lãi suất vay, thời gian vay, mục đích vay, số tiền đã trả, số tiền còn nợ như đại diện theo ủy quyền K BANK trình bày. Tuy nhiên, anh H vẫn không có mặt và cũng không có văn bản nào gửi cho Tòa án để thể hiện ý kiến của mình. Như vậy, anh H đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết. Theo các tài liệu, chứng cứ mà K BANK giao nộp và lời thừa nhận của bà Kh cùng các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu tập đã chứng minh được vào ngày 22/02/2011, K BANK và bà Kh, anh H đã ký kết hợp đồng tín dụng số: HD0782/HĐTD có nội dung là K BANK cho bà Kh, anh H vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất 1,8%/tháng, mục đích vay là bổ sung vốn nuôi cá rô, thời hạn vay 12 tháng (từ ngày giải ngân 26/02/2011 đến ngày 26/02/2012), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng và đến hết thời hạn vay, bà Kh, anh H đã không thực hiện đúng nghĩa vụ. Tính đến ngày 26/9/2020 còn nợ số tiền là 299.516.000 đồng (trong đó nợ gốc 20.000.000đ; nợ lãi quá hạn 279.516.000đ). Cho nên yêu cầu khởi kiện của K BANK là có căn cứ để chấp nhận.
Đối với yêu cầu bà Kh, anh H tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 27/9/2020 đến khi thanh toán xong nợ của K BANK và yêu cầu miễn lãi của bà Kh. Xét yêu cầu này của K BANK đã được ghi trong hợp đồng và phù hợp với quy định pháp luật nên có căn cứ để chấp nhận. Đối với yêu cầu miễn lãi của bà Kh, không được LONG BANK chấp nhận nên bà Kh phải trả.
Về quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp Th, xã Tr, huyện C, thành phố Cần Thơ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HD0782/HĐTC ngày 22/02/2011 và tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ của K BANK. Hội đồng xét xử nhận thấy, ngày 22/02/2011, bà Kh, anh H được sự đồng ý của thành viên hộ là chị Quách Thị Đan Tr đã thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp Th, xã Tr, huyện C, thành phố Cần Thơ (vào sổ cấp GCNQSDĐ số CH00027 do UBND huyện Cờ Đỏ cấp ngày 29/12/2009 cho hộ bà Quách Thị Kh) cho K BANK bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HD0782/HĐTC ngày 22/02/2011, hợp đồng này đã được công chứng, chứng thực theo quy định, tài sản đảm bảo cũng được đăng ký giao dịch đảm đúng quy định nên việc K BANK yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật. Đối với yêu cầu phát mãi cả tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ. Xét thấy, theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ vào ngày 12/8/2020, trên diện tích thửa đất số 262 có một căn nhà cấp 4 thuộc quyền sở hữu của bà Kh, anh H, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì yêu cầu này của K BANK cũng phù hợp. Vì vậy, yêu cầu được phát mãi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của K BANK có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Kh, anh H phải chịu chung án phí và bà Kh là người cao tuổi nên bà Kh, anh H được miễn theo quy định pháp luật.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Kh, anh H phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng;
- Căn cứ khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 12; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đối với bà Quách Thị Kh, anh Nguyễn Văn H.
1.1. Buộc bà Quách Thị Kh, anh Nguyễn Văn H trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền tính đến ngày 26/9/2020 là 299.516.000 đồng (trong đó nợ gốc 20.000.000đ; nợ lãi quá hạn 279.516.000đ).
1.2. Buộc bà Quách Thị Kh, anh Nguyễn Văn H tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K theo hợp đồng tín dụng số: HD0782/HĐTD ngày 22/02/2011, kể từ ngày 27/9/2020 đến khi thanh toán xong nợ (trừ tiền lãi phạt chậm trả lãi).
1.3. Trường hợp bà Quách Thị Kh, anh Nguyễn Văn H không thực hiện thanh toán hoặc thực hiện thanh toán không đầy đủ các khoản nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần K có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp Th, xã Tr, huyện C, thành phố Cần Thơ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HD0782/HĐTC ngày 22/02/2011 và tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Quách Thị Kh, anh Nguyễn Văn H phải được miễn theo quy định pháp luật.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần K được nhận lại 10.480.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 013185 ngày 12 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ.
3. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Quách Thị Kh, anh Nguyễn Văn H phải chịu 3.000.000 đồng. Bà Kh, anh H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền 3.000.000 đồng.
4. Tuyên án công khai. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ; - TAND TP.Cần Thơ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thành Sang |