- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang H “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2018/HS-ST Ngày 09 tháng 10 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mầu Văn Mùi.
Các Hội thẩm Nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga và bà Vũ Thị Kim Dung
Thư ký phiên toà: Bà Khổng Phương Thùy - Thư ký Toà án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2018/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 116/2018/HSST- QĐ ngày 28 tháng 9 năm 2018, đối với bị cáo:
Trần Quang H, sinh ngày 26/7/1987 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu 5, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị O; vợ là Trần Thị K; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/HSST ngày 25/3/2009, Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/8/2009, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 5/2009; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2018 cho đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Hải L, sinh năm 1976; nơi cư trú: Khu hành chính 1, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1968; nơi cư trú: Khu 5, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1985; nơi cư trú: Khu 10, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/6/2018, tại khu vực đường Tôn Đức Thắng, thuộc tổ dân phố T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ công tác phòng chống tội phạm về ma túy - Công an thành phố V phát hiện và bắt quả tang Trần Quang H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng nghiện ma túy là Trần Hải L.
Tang vật thu giữ gồm có: Thu dưới gốc cây cạnh chỗ H đứng 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 gói giấy bạc nhỏ chứa chất bột màu trắng (H khai nhận là ma túy Hêrôin của H đem đi để bán cho L với giá 250.000đ), vật chứng được niêm phong có ký hiệu A1; thu tại tay phải của H số tiền 250.000đ (H khai nhận là tiền vừa bán ma túy cho L mà có); tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vertu đã cũ và xe máy nhãn hiệu SYM, BKS: 88B1 - 005.12; tạm giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ.
Tại kết luận giám định số: 910/KLGĐ ngày 04/7/2018, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất bột màu trắng của mẫu kí hiệu A1 gửi giám định là ma túy lẫn tạp chất, loại Hêrôin. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,0400 gam không kể bao bì. Khối lượng Hêrôin trong 0,0400gam mẫu gửi giám định là 0,0117gam”.
Về nguồn gốc 01 gói ma túy Hêrôin thu giữ, H khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 29/6/2018, H một mình đi đến khu vực hồ Đ, thuộc phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây H gặp và hỏi mua của một người nam giới (không biết tên, tuổi và địa chỉ) với giá 200.000đ. Sau đó, H mang gói ma túy này về nhà lấy một phần ra sử dụng, phần ma túy còn lại H gói lại cất giấu trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long mục đích đem bán để kiếm lời. Đến ngày 30/6/2018, khi L gọi điện thoại hỏi mua ma túy, H đã mang gói ma túy này đi bán cho L với giá 250.000đ thì bị Công an bắt quả tang.
Tại Cáo trạng số: 115/CT-VKSTPVY ngày 24/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố bị cáo Trần Quang H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Trần Quang H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang H vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị O có mặt tại phiên tòa khai nhận việc mua chiếc xe của anh Nguyễn Văn K và bà không biết việc bị cáo sử dụng xe trên để mua bán ma túy. Anh Trần Hải L và anh Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã khai nhận như nội dung cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và bao gói ma túy còn lại sau giám định; tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 250.000đ thu giữ của bị cáo H; tịch thu, bán, sung quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ của H và L; xác nhận Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho bà Nguyễn Thị O 01 xe máy nhãn hiệu SYM, BKS: 88B1-005.12.
Bị cáo không có bào chữa, tranh luận khác. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Trần Quang H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/6/2018, tại khu vực đường Tôn Đức Thắng, thuộc tổ dân phố T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo Trần Quang H đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng nghiện ma túy là Trần Hải L để lấy số tiền 250.000đ thì bị Tổ công tác, Công an thành phố V phát hiện và bắt quả tang. Vật chứng thu giữ là 01 gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng chất bột màu trắng được giám định là ma túy loại Hêrôin có khối lượng 0,0400gam.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Quang H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; gây ra một lớp người nghiện trong xã hội làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
ét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 07 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.
Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 01 lần bị kết án về hành vi xâm phạm quyền sở hữu. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng cũng chứng tỏ bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Hành vi của bị cáo được thực hiện trong vụ án với lỗi cố ý, động cơ là thu lời bất chính, hiện tại trên địa bàn thành phố V các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người người công dân có ích cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng. Tuy nhiên, bị cáo là con nghiện không có tài sản và nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với các người có liên quan đến vụ án gồm: Người đàn ông, H khai đã bán ma túy cho H nhưng H không biết tên, tuổi địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là đúng pháp luật. Đối với Trần Hải L là người đã thỏa thuận mua ma túy của H để sử dụng nhưng chưa kịp nhận ma túy thì đã bị Cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ nên Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để xử lý L về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về vật chứng: Đối với 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và bao gói ma túy còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 250.000đ đã thu giữ của bị cáo H, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 02 điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo H và người có liên quan L, đây là phương tiện các đối tượng dùng để liên lạc vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu SYM, BKS: 88B1 - 005.12, quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị O (mua lại của anh Nguyễn Văn K), bà O không biết bị cáo H đã sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà O, nay bà O không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Quang H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/6/2018).
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và bao gói ma túy còn lại sau giám định; tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 250.000đ đã thu giữ của bị cáo H; tịch thu, phát mại, sung công quỹ Nhà nước 02 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo H và L (Đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/9/2018).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Quang H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND TP Vĩnh Yên; - Công an TP Vĩnh Yên; - Trại tạm giam - CA Vĩnh Phúc; - Chi cục THADS TP Vĩnh Yên; - Thi hành án hình sự; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Mầu Văn Mùi |