- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Liêm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 và 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2018/HS-ST Ngày: 27 - 7 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Lệ Nga
2. Ông Hoàng Minh Châu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 172/2018/HS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1991, tại thành phố G, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Số 262, tổ 3, khu phố 5, phường T, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Nhà trọ số C4-25 đường K, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Dũng, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Hồng Bích, sinh năm 1963; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2018; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Trí N, sinh năm: 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 316/26/10 đường Q, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
2. Tăng Bảo C, sinh năm: 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 20/9 đường K, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng L là người nghiện ma túy từ khoảng tháng 01/2018. Nguồn ma túy mà bị cáo L có để sử dụng là được bạn bè cho. Đến khoảng tháng 02/2018 thì L mua của người thanh niên thông qua mạng xã hội (Zalo) của người thanh niên (không biết tên, địa chỉ và không còn nhớ tên tai khoản Zalo). Sau khi thỏa thuận xong người thanh niên gửi ma túy theo xe chuyển phát nhanh từ thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố G cho L và L gửi tiền qua tài khoản tại Ngân hàng Vietcombank (không nhớ số tài khoản). L mua ma túy của người thanh niên tổng cộng 02 lần, mỗi lần 10 viên thuốc lắc, giá mỗi viên là 240.000 đồng và đã sử dụng hết.
Vào khoảng 10 giờ ngày 31/3/2018. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, L đã dùng điện thoại di động liên lạc với người thanh niên nói trên để mua 30 viên ma túy, với giá mỗi viên 240.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ ngày 01/4/2018, L nhận được 30 viên nén màu xanh lá cây, trên bề mặt viên nén có chữ XL chồng lên nhau được gói trong bịch nylon từ đường chuyển phát nhanh tại bến xe G thuộc phường Vĩnh Quang, thành phố G. Sau đó, L mang về nơi ở tại số C4-25 đường Hồ Thị Kỷ, phường Vĩnh Lạc, thành phố G, tỉnh Kiên Giang và cất giấu trong bao gạo. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, L đem 05 viên ma túy đến bar “Zen” đường Tôn Đức Thắng, phường Vĩnh Lạc, thành phố G sử dụng cùng bạn bè. Đến 16 giờ ngày 02/4/2018, L đang ăn trên đường 3/2 thuộc phường Vĩnh Lạc, thì Đ (không rõ họ tên; địa chỉ) chạy đến đưa cho L 01 bịch nylon có chứa 10 viên nén (thuốc lắc) màu xanh da trời, hình vương miện để L giữ với ý định khi nào đi bar chơi thì L và Đ sử dụng. L mang về nơi ở và cất giấu trong bao gạo cùng với bịch ma túy mà L đã mua. Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố G kết hợp Công an phường Vĩnh Lạc kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trong bao gạo tại nơi ở của L 02 bịch nylon; trong đó 01 bịch có chứa 10 viên nén màu xanh da trời, hình vương miện; 01 bịch nylon chứa 25 viên nén, màu xanh lá cây, trên bề mặt viên nén có chữ VL chồng lên nhau, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen xám.
* Vật chứng thu đƣợc:
- 02 bịch nylon trong suốt, trong đó 01 bịch có chứa 10 (mười) viên nén màu xanh da trời, hình vương niệm; 01 bịch nylon chứa 25 viên nén, màu xanh lá cây, trên bề mặt viên nén có chữ VL chồng lên nhau.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen xám, có số Imei: 355878061265385, đã qua sử dụng.
* Tại bản Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số: 179/KL-PY ngày 05 tháng 4 năm 2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận: 10 viên nén màu xanh da trời, hình vương miện có khối lượng 4,0889 gram, là chất ma túy, loại Levomethorphan là chất ma túy được quy định tại mục II, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
* Tại bản Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số: 180/KL-PY ngày 05 tháng 4 năm 2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận: 25 viên nén màu xanh lá cây, có chữ VL chồng lên nhau có khối lượng là 9,4134 gram, không tìm thấy chất ma túy có trong danh mục quy định tại Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP của Chính phủ.
* Tại bản cáo trạng số: 113/CT-VKSTPRG ngày 05 tháng 7 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thống nhất với kết quả giám định về chất ma túy của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang; đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra Công an thành phố G và bản cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ 18004.PY/2018/HP và 1800PY/2018/HP có chữ ký của giám định viên Phan Thanh Thanh, người chứng kiến Thái Trần Chung; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước tài sản dùng vào việc phạm tội là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen xám, có số Imei: 355878061265385, đã qua sử dụng.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bản thân bị cáo biết ăn năn, hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sửa đổi bản thân, sớm trở về gia đình để làm người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Do bị cáo Nguyễn Hoàng L có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã thỏa thuận với một người thanh niên không rõ lai lịch để mua ma túy về sử dụng. Ngày 01/4/2018 bị cáo L nhận được qua đường chuyển phát nhanh tại bến xe G 01 gói nylon chứa 30 viên nén có màu xanh lá cây, trên bề mặt có hình chữ VL chồng lên nhau, L đã sử dụng hết 05 viên, còn lại 25 viên L cất trong bao gạo tại nơi ở của bị cáo L. Đến 16 giờ, ngày 02/4/2018 bị cáo L nhận của Đ (không rõ họ tên, địa chỉ) 10 viên nén có màu xanh da trời, hình vương miện, L cất giấu cùng 25 viên mà bị cáo đã mua. Đến 23 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy khám xét và bắt qua tang.
Theo các kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang 10 viên nén màu xanh da trời, hình vương miện, có khối lượng 4,0889 gram, là chất ma túy, loại Levomethorphan là chất ma túy nằm trong danh mục II, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013; 25 viên nén màu xanh lá cây, có chữ VL chồng lên nhau có khối lượng là 9,4134 gram, không tìm thấy chất ma túy Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 và Nghị định 126/2015/NĐ-CP. Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến
dưới 500 gam;
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;
e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;
g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như viện dẫn trên.
Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy; bị cáo nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng ma túy là gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của con người, nó cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an trong khu vực, bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, do đó sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo bằng mức án cao bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhaát ñònh ñeå caûi taïo, giaùo duïc bò caùo, đồng thời cũng nhằm tuyên truyền, phoøng ngöøa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Qua xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo mức án thấp nhất khung hình phạt cũng đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội và cũng nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Về biện pháp tư pháp:
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ 18004.PY/2018/HP và 1800Py/2018/HP có chữ ký của giám định viên Phan Thanh Thanh, người chứng kiến Thái Trần Chung.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen xám, có số Imei: 355878061265385, đã sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 03/4/2018).
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 và 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ 18004.PY/2018/HP và 1800Py/2018/HP có chữ ký của giám định viên Phan Thanh Thanh, người chứng kiến Thái Trần Chung và mộc đỏ của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen xám, có số Imei: 355878061265385, đã sử dụng.
Số vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố G quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 18/QĐ-VKSTPRG ngày 05/7/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/7/2018).
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND Tp. G; - Chi cục THA dân sự Tp. G; - Công An Tp. G; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - Bị cáo; - Lưu . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thùy Linh |