- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Thị C, tên gọi khác Khun Thị C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2018/HS-ST Ngày: 26/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hữu và ông Bùi Xuân Khuê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Lượng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Bà Vũ Thị Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Thị C; tên gọi khác: Khun Thị C; sinh năm 1984 tại: Huyện T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khun Văn H, sinh năm 1958 và con bà Lò Thị S, sinh năm 1959; có chồng là Quàng Văn V, sinh năm 1983 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền sự: Không, tiền án: Có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy; nhân thân: Chưa lần nào bị xử lý vi phạm hành chính, ngày 23/02/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ từ ngày 24/8/2018 tạm giam ngày 27/8/2018 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời có nghĩa vụ liên quan:
Họ và tên: Cà Văn P, sinh năm 1969; nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 20 phút ngày 24/8/2018, tổ công tác công an huyện Tuần Giáo làm nhiệm vụ tại khu vực bản L, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Phát hiện, bắt quả tang bị cáo Lò Thị C (Khun Thị C) đang tàng trữ trái phép trong gối trên giường ngủ, tại quán bán hàng của bị cáo 01 túi nilon màu xanh chứa 62 viên nén màu hồng có khối lượng 6,34 gam nhằm mục đích bán lẻ kiếm lời. Qua điều tra bị cáo khai đó là ma túy tổng hợp của bị cáo mua của Cà Văn P, sinh năm 1969, trú tại: bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên với giá 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) vào khoảng 08 giờ ngày 24/8/2018 tại buồng ngủ của bị cáo. Khi trao đổi mua bán ma túy bị cáo và P thỏa thuận, lúc nào bán được ma túy bị cáo sẽ trả cho P là 1.200.000đ.
Tại bản kết luận giám định số: 773/GĐ-PC09 ngày 09/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Thị C gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Thị C là 6,34 gam”.
Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo Lò Thị C (Khun Thị C) khai nhận: Vào khoảng 08 giờ ngày 24/8/2018 bị cáo đã mua nợ của Cà Văn P 62 viên ma túy, loại Methamphetamine với giá 1.200.000đ, thỏa thuận khi nào bán được ma túy sẽ trả tiền cho P, nhưng bị cáo chưa kịp bán cho ai bị Công an thu giữ 62 viên ma túy có khối lượng 6,34 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 98/CT-VKS-TG ngày 12 tháng 11 năm 2018, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Lò Thị C (Khun Thị C) về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo Điểm i, Điểm q Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm i, Điểm q Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng 6,24 gam ma túy, loại Methamphetamine vật chứng còn lại thu giữ của bị cáo và 01 túi nilon màu xanh đã qua sử dụng. Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.
Về hành vi của bị cáo: Vào khoảng 08 giờ ngày 24/8/2018 bị cáo Lò Thị C đã mua nợ 62 viên ma túy, loại Methamphetamine với giá 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) của Cà Văn P tại buồng ngủ của bị cáo; thỏa thuận khi nào bán được ma túy sẽ trả tiền cho P, nhưng bị cáo chưa kịp bán cho ai bị Công an thu giữ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng ma túy là 6,34 gam đã bị thu giữ. Vì vậy Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bị cáo. Tại Bản án số: 18/2012/HSST ngày 23/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội về tội rất nghiêm trọng, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lò Thị C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm i, Điểm q Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo trực tiếp tiếp tay cho những người chuyên mua bán các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tuần Giáo nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm rất nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo đã có thời gian dài cải tạo tại trại giam, lẽ ra phải lấy đó làm bài học sống tốt hơn, có ích cho gia đình và xã hội. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét thấy điều kiện kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và là hộ nghèo. Thu nhập của bị cáo chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp, nên không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù và không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần chấp nhận.
Đối với Cà Văn P là người bị cáo khai vào ngày 24/8/2018 đã bán cho bị cáo 62 viên ma túy, loại Methamphetamine. Quá trình điều tra, khi tiến hành đối chất P không thừa nhận việc đã bán ma túy cho bị cáo, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu nào khác để xử lý đối với Cà Văn P về tội Mua bán trái phép chất ma túy, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng 6,24 gam ma túy, loại Methamphetamine vật chứng còn lại thu giữ của bị cáo và 01 túi nilon màu xanh đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí; theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm i, Điểm q Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Thị C, tên gọi khác Khun Thị C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Thị C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 24/8/2018.
2. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a, điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng 6,24 gam Methamphetamine vật chứng còn lại thu giữ của bị cáo và 01 túi nilon màu xanh đã qua sử dụng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.
3. Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (26/11/2018).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - Công an huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Việt Hƣơng |