vanban.org

Bản án 118/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Lê Thị Yến P.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Yến P được ly hôn với ông Triệu Tô N. Về con chung: Bà Lê Thị Yến P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Triệu Quỳnh A, sinh ngày 02/10/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà P yêu cầu ly hôn với ông N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Lê Thị Yến P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 118/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 26-7-2018
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tới.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Phước Công.

Bà Hoàng Thị Thiện Lai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 286/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Yến P, sinh năm 1990. (Có mặt)

Cư trú tại: Ấp đường G, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Ông Triệu Tô N, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Cư trú tại: Ấp L, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 17 tháng 4 năm 2018 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Yến P trình bày:

Bà và ông N sống chung với nhau năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo, giấy chứng nhận kết hôn số 199 ngày 24 tháng 12 năm 2013, sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nhiều lần hàn gắn nhưng đến năm 2016 ly thân đến nay. Nguyên nhân do tính tình không hợp, thường xuyên cự cải, ông N không quan tâm đến vợ con. Hiện nay tình cảm không còn, bà xin được ly hôn với ông N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung tên Triệu Quỳnh A, sinh ngày 02/10/2014. Hiện nay cháu Quỳnh A do bà P chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà P yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại Phiên tòa bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ông Triệu Tô N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Từ khi vợ chồng ly thân đến nay và bà P gửi đơn khởi kiện đến Tòa án, ông N không có ý kiến phản hồi, không tạo điều kiện để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Mặt khác, bà P xác định không còn tình cảm với ông N, nếu tiếp tục chung sống sẽ không hạnh phúc. Nên, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P đối với ông N.

Về con chung: Từ khi vợ chồng ly thân đến nay, cháu Quỳnh A sống với bà P vẫn phát triển bình thường về thể chất, tinh thần. Để ổn định cuộc sống cho cháu Quỳnh A nên để bà P tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Do bà P không yêu cầu cấp dưỡng nên không đề cập đến.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề cập giải quyết.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Bà Lê Thị Yến P khởi kiện ông Triệu Tô N, ông N cư trú Ấp L, xã A, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Triệu Tô N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông N là hợp pháp. Quá trình chung sống do ông, bà bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Bà P và ông N ly thân từ năm 2016 đến nay không còn liên lạc, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau, như vậy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung giữa bà P và ông N không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, bà P xác định tình cảm không còn. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà P là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung tên Triệu Quỳnh A, sinh ngày 02/10/2014. Hiện cháu Anh do bà P chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà P yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Hiện nay cháu A đã sống ổn định với bà P. Bà P yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ông N cũng không có ý kiến phản đối. Do đó, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P là được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Yến P không yêu cầu nên Tòa án không xem xét đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với ông N.

. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

. Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Ghi nhận hai bên xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà P và ông N thì ông, bà phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Thị Yến P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điều 28, 35, 39, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Lê Thị Yến P.

- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Yến P được ly hôn với ông Triệu Tô N.

- Về con chung: Bà Lê Thị Yến P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Triệu Quỳnh A, sinh ngày 02/10/2014.

Bà Lê Thị Yến P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Triệu Tô N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Bà Lê Thị Yến P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0019527 ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ