vanban.org

Bản án 1173/2024/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L. II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 216/2024/HSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội về hình phạt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Án PT 1173 - 26.12.2024 Nguyễn Văn L- Vi phạm quy định về tham gia GT đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 260 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1173/2024/HS-PT
Ngày 26 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;

Thẩm phán:

Ông Mai Văn Quang;

Ông Đinh Quốc Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy, Kiểm sát viên.

Ngày 26/12/2024, tại Trụ sở Tòa án Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 1085/2024/TLPT-HS ngày 13/11/2024; Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L; Đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 216/2024/HSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn L, sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn Đ, Xã Đ, Huyện S, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân nhà máy A - Bộ Quốc phòng; Học phổ thông: 12/12; Con ông Nguyễn Văn T và con bà Đặng Thị L1; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Vụ án còn có người tham gia tố tụng khác là bị hại và các đại diện hợp pháp của bị hại không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h00' ngày 10/3/2024, bị cáo Nguyễn Văn L (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha - BKS: 29S6 - 378.97 đi từ công ty Z (đóng trên địa bàn thôn X, xã Đ, để về nhà trên tuyền đường 16 rẽ vào đường liện thôn để ra hướng UBND xã Đ) với tốc độ khoảng 30 km/h. Khi đi đến đết gần gầm cầu chui đường QL18, thuộc địa phận thôn C, xã Đ, huyện S, L phát hiện bà Lê Thị H là người đang điều khiến xe đạp đi phía trước cùng chiều ở rìa đường bên phải, cách đầu xe mô tô do L điều khiển khoảng 4 đến 5m. Do L điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn dẫn đến phần để chân bên phải phía trước xe mô tô của bị cáo đã đâm vào phía sau bên trái xe đạp do bà Lê Thị H điều khiển đi phía trước cùng chiều. Hậu quả bà H bị thương tích nặng dẫn đến tử vong ngày 11/3/2024 tại Bệnh viện.

Ngay sau khi xảy ra tai nạn, cơ quan CSĐT - Công an huyện S đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Văn L. Kết quả: Trong hơi thở của Nguyễn Văn L không có nồng độ cồn. Tại cơ quan Công an huyện S, bị cáo Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

- Hiện trường đã bị xáo trộn hoàn toàn, các phương tiện đã được người nhà di chuyển khỏi hiện trường. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường liên thôn thuộc thôn C, xã Đ, huyện S, là đường 02 chiều, được dải nhựa thẳng phẳng, đo rộng 4m60; phần đường của đường 16 hướng UBND xã Đ đo rộng 1m90, có dải sơn màu vàng đứt quãng ở giữa. Phía trước khu vực xảy ra tai nạn về phía UBND xã Đ là cống chui dân sinh, phía sau khu vực xảy ra tại nạn về phía đường 16 có biển cảnh báo giao nhau với đường ưu tiên phía bên phải theo chiều UBND xã Đ hướng 16;

- Điểm mốc: Đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước xe mô tô - BKS: 29S6 - 378.97 về phía UBND xã Đ 1m20, là mép cống chui bên phải theo chiều đường 16 hướng UBND xã Đ;

- Mép đường làm chuẩn: Mép đường nhựa phía bên phải theo chiều đường 16 hướng UBND xã Đ;

- Vị trí xe mô tô - BKS: 29S6 - 378.97 đổ nghiêng bên trái trên mặt đường nhựa, đầu xe hướng UBND xã Đ, đuôi xe hướng đường 16, yên xe và tay lái hướng mép đường bên trái mép đường chuẩn. Đo hình chiếu tâm trục bánh xe trước xe mô tô vào mép mép đường chuẩn là 0m85, đo hình chiếu tâm trục bánh sau vào mép đường chuẩn là 0m90. Đo hình chiếu tâm trục bánh sau xe mô tô về phía đường 16,1m00 là điểm đầu của dấu vết cày xước mặt đường;

- Vị trí vết cày xước mặt đường để lại trên mặt đường nhựa, đo dài 1m50. Đo điểm đầu dấu vết vào mép đường chuẩn là 0m95, điểm cuối của dấu vết trùng với giá để chân trước xe mô tô BKS: 29S6 - 378.97. Dấu vết có chiều đường 16 hướng UBND xã Đ. Đo điểm đầu dấu vết cày xước về phía đường 16, 3m50 là tâm của dấu vết vùng màu nâu đỏ trên mặt đường nhựa;

- Vị trí vùng màu nâu đỏ để lại trên mặt đường nhựa có kích thước 0m20 x 0m12. Đo tâm của dấu vết vào mép đường chuẩn là 0m90. Đo tâm của dấu vết về phía 16, 1m80 là hình chiếu tâm trục bánh trước của xe đạp;

- Vị trí xe đạp đổ nghiêng bên phải trên mép đường làm chuân, đuôi xe hướng hành lang an toàn giao thông bên phải đường theo chiều đường A hướng UBND xã Đ. Đo hình chiếu tâm trục bánh trước xe đạp vào mép đường làm chuần là 0m80. Đo hình chiếu tâm trục bánh sau vào mép đường chuẩn là 0m60.

Ngày 11/3/2024, cơ quan CSĐT - Công an huyện S đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y xác định nguyên nhân tử vong của nạn nhân Lê Thị H. Tại Kết luận giám định tử thi số 364 ngày 29/3/2024 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận:

- Kết quả khám nghiệm: Nhiều vết sây sát, bầm tím da vùng quanh mắt phải, vai phải, ngực trái và chân phải.

- Giám định độc chất: Mẫu máu nạn nhân Lê Thị H giám định không tìm thấy Ethanol.

- Nguyên nhân chết: Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết.

Ngày 11/3/2024, gia đình bà H có đơn từ chối mổ pháp y tử thi và xác định lý do bà H tử vong là do tai nạn giao thông.

* Kêt quả khám nghiệm xe mô tô - BKS: 29S6 - 378.97: Tại đầu tay nắm lái bên trái có dấu vết trượt xước, mài mòn kim loại KT 2 x 2,5cm. Điểm thấp nhất cách đất 91 cm. Ngoài ra, không phát hiện dấu vết va chạm nào khác.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện xe đạp: Không phát hiện dấu vết va chạm mới nào.

* Vật chứng vụ án: Ngày 10/3/2024, cơ quan CSĐT - Công an huyện S đã tạm giữ 01 xe mô tô - BKS: 29S6 - 378.97; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự; 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 004884 đều mang tên Nguyễn Văn L; tạm giữ 01 xe đạp của nạn nhân điều khiển bị tai nạn.

Tiến hành rà soát camera xung quanh khu vực hiện trường xác định trước cửa nhà anh Lê Văn L2, sinh năm: 1973, ở thôn C, xã Đ có 01 mắt camera hướng ra khu vực xảy ra tai nạn có ghi nhận diễn biến vụ việc. Cơ quan Công an đã trích xuất dữ liệu, lưu hồ sơ đề làm căn cứ giải quyết vụ án.

* Tại Kết luận giám định số 2406 ngày 23/4/2024 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

- Không xác định được dấu vết va chạm và vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS: 29S6 - 378.97 và xe đạp;

- Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô BKS: 2956 - 378.97 và xe đạp.

Đối với 01 xe mô tô BKS: 29S6 - 378.97 là phương tiện bị cáo gây tai nạn. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cùng giấy tờ liên quan cho Nguyễn Văn L là chủ sở hữu. Đối với chiếc xe đạp do nạn nhân điều khiển khi xảy ra tai nạn, quá trình điều tra xác định là xe của nạn nhân, nên cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lê Văn H2 là người đại diện hợp pháp cho nạn nhân.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn L đã tự nguyện bồi thường số tiên 170.000.000đ cho anh H2 (đại diện hợp pháp của bị hại), anh H2 không có yêu câu bồi thường gì khác và có đơn đề nghị xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 141/CT-VKS ngày 16/08/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện S đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại bản án số 216/2024/HS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện S, thành phố Hà Nội đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 12 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/9/2024 bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn L giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội nhưng mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là quá nghiêm khắc. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và gia đình bị hại có đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 216/2024/HS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 65; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Bị cáo không tham gia tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về trình tự, thủ tục và thẩm quyền đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về Nội dung: Căn cứ lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15h10’ ngày 10/3/2024, bị cáo Nguyễn Văn L, có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, điều khiển xe mô tô BKS: 29S6-378.978 tham gia giao thông trên tuyến 16 để rẽ vào đường liên thôn đi ra thôn C, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội. Do bị cáo Nguyễn Văn L không chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn nên phần để chân bên phải phía trước xe mô tô của bị cáo đã đâm vào phía sau bên trái xe đạp do bà Lê Thị H điều khiển đi phía trước cùng chiều. Hậu quả làm bà H bị thương tích nặng dẫn đến tử vong ngày 11/3/2024 tại Bệnh viện X, Hà Nội.

Với hành vi trên, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, vai trò đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 12 tháng tù là có phần nghiêm khắc.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trước lần phạm tội này bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh gia đình kho khăn là lao động chính, có xác nhận của chính quyền địa phương. Bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng; xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xử cho bị cáo được hưởng án treo vẫn đảm bảo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L.

II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 216/2024/HSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 65; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:

Nguyễn Văn L 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

III. Các quyết định của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ