vanban.org

Bản án 1173/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Phương L ly hôn với ông Liêu Thế S. Giấy chứng nhận kết hôn số 170/2013, quyển số 01/2013 do Uỷ ban nhân dân phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cấp ngày 18 tháng 7 năm 2013. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Phương L - Liêu Thế S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1173/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26-9-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Xuân Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lại Thị Đắc.

2. Bà Lý Ngọc Manh.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 687/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 337/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/8/2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 237/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07/9/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Phương L, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Số 424A Khu phố N, phường L, thành phố TA, tỉnh B. (xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Liêu Thế S, sinh năm 1984.

Địa chỉ HKTT: Số 289/13B đường B, Phường A, Quận B, Thành phố H. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Hoàng Thị Phương L trình bày:

Bà Hoàng Thị Phương L và ông Liêu Thế S tự nguyện tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 170/2013, quyển số 01/2013 ngày 18 tháng 7 năm 2013.

Sau một thời gian chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, ông S không làm tròn trách nhiệm của người cha, người chồng, hai vợ chồng thường xuyên cải vã. Bà L và ông S đã sống ly thân từ tháng 2 năm 2022.

Nay nhận thấy tình cảm không còn, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu Toà án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu ly hôn với ông Liêu Thế S.

- Về con chung: bà L và ông S có hai con chung là Liêu Hoàng Chấn H (giới tính: nam; sinh ngày: 04/12/2013) và Liêu Hoàng Cát T (giới tính: nữ; sinh ngày: 02/7/2018).

Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông S cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung: Bà L xác nhận không có. Không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà L xác nhận không có. Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bà L cam kết việc ly hôn của bà và ông S không nhằm trốn tránh bất kỳ nghĩa vụ nào và bà chỉ nộp đơn khởi kiện ly hôn tại Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên toà sơ thẩm,

- Nguyên đơn bà Hoàng Thị Phương L có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn ông Liêu Thế S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 337/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/8/2022; Quyết định hoãn phiên toà số 237/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07/9/2022; Giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng ông Liêu Thế S vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Liêu Thế S theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

+ Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ những quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ để xem xét giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Phương L, cụ thể:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị Phương L về việc ly hôn với ông Liêu Thế S.

+ Về con chung: Giao hai con chung là Liêu Hoàng Chấn H (giới tính: nam; sinh ngày: 04/12/2013) và Liêu Hoàng Cát T (giới tính: nữ; sinh ngày: 02/7/2018) cho bà Hoàng Thị Phương L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Liêu Thế S không cấp dưỡng cho con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Hoàng Thị Phương L đã cung cấp đầy đủ lời khai cùng các tài liệu, chứng cứ cho Toà án và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Liêu Thế S đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng.

Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Hoàng Thị Phương L nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Liêu Thế S, đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn là ông Liêu Thế S cư trú tại Quận 8 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà Hoàng Thị Phương L và ông Liêu Thế S tự nguyên tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 170/2013, quyển số 01/2013 ngày 18 tháng 7 năm 2013. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ lời khai của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nhận thấy giữa bà Hoàng Thị Phương L và ông Liêu Thế S chỉ ràng buộc về mặt pháp lý, cả hai không còn tình cảm với nhau, đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2022, quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Bị đơn ông Liêu Thế S vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp lời khai thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị Phương L đối với ông Liêu Thế S.

Về con chung:

Căn cứ bản sao Trích lục khai sinh số 1021/2018/TLKS-BS đăng ký ngày 20/7/2018 tại Uỷ ban nhân dân phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; bản sao Giấy khai sinh số 725/2013, quyển số 4/2013 đăng ký ngày 10/12/2013 tại Uỷ ban nhân dân phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cùng lời khai của nguyên đơn có đủ cơ sở xác định ông Liêu Thế S và bà Hoàng Thị Phương L có hai con chung là: Liêu Hoàng Chấn H (giới tính: nam; sinh ngày: 04/12/2013) và Liêu Hoàng Cát T (giới tính: nữ; sinh ngày: 02/7/2018).

Căn cứ Bản tự khai ngày 12/7/2022, trẻ Liêu Hoàng Chấn H trình bày nếu cha mẹ ly hôn thì có nguyện vọng được sống chung với mẹ và em gái.

Theo lời trình bày bà L, từ thời điểm sống ly thân đến nay, bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, hiện tại ba mẹ con đang ở tại địa chỉ số 424A Khu phố N, phường L, thành phố TA, tỉnh B.

Xét thấy, yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung sau khi ly hôn của bà L là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, phù hợp với nguyện vọng và đảm bảo quyền lợi của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng cho con: Bà Hoàng Thị Phương L không yêu cầu ông Liêu Thế S cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hoàng Thị Phương L xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà án giaỉ quyết. Ông Liêu Thế S vắng mặt, không có lời khai yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên toà, ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hoàng Thị Phương L phải chịu theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014),

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Phương L ly hôn với ông Liêu Thế S.

Giấy chứng nhận kết hôn số 170/2013, quyển số 01/2013 do Uỷ ban nhân dân phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cấp ngày 18 tháng 7 năm 2013.

1.2. Về con chung và cấp dưỡng cho con:

Sau khi ly hôn, giao hai con chung Liêu Hoàng Chấn H (giới tính: nam; sinh ngày: 04/12/2013) và Liêu Hoàng Cát T (giới tính: nữ; sinh ngày: 02/7/2018) cho bà Hoàng Thị Phương L tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Liêu Thế S không cấp dưỡng cho con.

Ông Liêu Thế S có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hoàng Thị Phương L xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Hoàng Thị Phương L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2021/0017104 ngày 15/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hoàng Thị Phương L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Bà Hoàng Thị Phương L, ông Liêu Thế S có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ