- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Ngô Trí V - Công ty Cổ phần Du lịch và Tiếp thị giao thông vận tải Việt Nam (VT)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Trí V.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 519 Bộ luật Dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1170/2018/DS-PT Ngày: 06/12/2018 V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa:"Bà Vũ Thị Xuân Trang
Các"Thẩm"phán: 1. Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
2. Bà Phạm Thị Nhung
Thư"ký"Tòa"án"ghi"biên"bản"phiên"tòa : Bà An Phương Trang, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên"tòa: Bà Đinh Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06/12/2018 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 540/2018/TLPT-DS ngày 05/11/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 1138/2018/DS-ST ngày 07/9/2018 của Tòa án nhân dân Quận Z bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5469/2018/QĐ-PT ngày 20/11/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Ngô Trí V, sinh năm 1949 (có mặt)"
Địa chỉ: A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
"
Bị đơn: Công ty Cổ phần Du lịch và Tiếp thị giao thông vận tải Việt Nam (VT)
Địa chỉ: A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thúy A, sinh năm 1990 (có mặt)"
"
Người"có"quyền"lợi"và"nghĩa"vụ"liên"quan: "
Ông Trịnh Công S, sinh năm 1974 (xin vắng)"
Địa chỉ: D, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG
" Theo"đơn"khởi"kiện,"đơn"sửa"đổi,"bổ"sung"đơn"khởi"kiện"ngày"12/7/2017"và" các"lời"khai"trong"quá"trình"giải"quyết"vụ"án"nguyên"đơn"trình"bày:" Từ ngày 12/5/2017 đến ngày 20/5/2017 ông V có tham gia chuyển du lịch Thổ Nhĩ Kỳ do Công ty cổ phần du lịch và tiếp thi giao thông vận tải Việt Nam – VT (gọi tắt là VT) tổ chức. Trong chuyến đi có 02 điểm tham quan do khách hàng tự chịu chi phí: đi khinh khí cầu và xem múa bụng. Hướng dẫn viên người Thổ Nhĩ Kỳ ông Mô-ha-mét và hướng dẫn viên của V ông Trịnh Công S đã thu tiền vé khinh khí cầu là 210 USD (giá thực tế chỉ 85-100 USD) và vé xem múa bụng 40 USD (giá thực tế chỉ 20 USD). Như vậy V đã thu tiền vé của 02 dịch vụ trên cao hơn giá thực tế là 144 USD. Ông V có 05 bằng chứng cho việc nâng giá kinh khí cầu:
- Giá vé tại trang mạng http://www.kapadokyabaloons.com chỉ 80 Euro hoặc 85 USD.
- Giá vé tại trang mạng 246 bóng đá giá chỉ 79 Euro.
- Tập san quảng cáo trên máy bay thể hiện giá vé là 100 USD.
- Email của ông Tô Hoàng Thiên Ân tự đặt vé khinh khí cầu giá chỉ 92,705 USD.
- Hướng dẫn viên S thừa nhận giá vé chỉ 85 USD nhưng phía đối tác Thổ Nhĩ Kỳ phải mua bảo hiểm nên thu cao như vậy. Nay ông V khởi kiện yêu cầu VT thanh toán lại số tiền chênh lệch là 144 USD quy ra tiền Việt Nam là 3.280.320 đồng, trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Tại"lời"khai"ý"kiến"trong"quá"trình"giải"quyết"vụ"án"bà"Trần"Thị"Thúy"A"đại" diện"V"trình"bày: VT xác nhận ông V có tham gia tour du lịch Thổ Nhĩ Kỳ từ ngày 12/5/2017 đến ngày 20/5/2017 do V tổ chức. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, V có ý kiến như sau: Đối với giá optiontour (dịch vụ tự chọn, không nằm trong giá tour), cụ thể là giá vé khinh khí cầu và xem múa bụng là khách tự quyết định lựa chọn đăng ký tham giá hay không (chi phí tự túc) đã được nêu rõ trong chương trình tour từ ban đầu khách đăng ký. Đối với mức giá mà khách hàng phải trả là giá của đối tác bên Thổ Nhĩ Kỳ đưa ra, hướng dẫn viên V chỉ có trách nhiệm thông dịch lại cho khách thông tin dịch vụ, giá cả và thu hộ tiền sau khi khách quyết định tham gia. Việc khách hàng khẳng định nhân viên VT nâng giá là không có cơ sở. Giá là từ phía đơn vụ tổ chức tại Thổ Nhĩ Kỳ, quyền chọn mua là của khách hàng. Còn việc khách hàng tham khảo giá từ nhiều nợ (trên mạng, người quen, tự đăng ký trên mạng, tạp chí hàng không,...) để làm cơ sở so sánh với giá mà khách đã trả rồi kết luận nhận viên VT nâng giá, VT dung túng cho nhân viên lừa dối khách hàng là không có cơ sở vì khác đơn vụ tổ chức nên giá có thể khác nhau.
Do đó VT không chấp nhận yêu cầu của ông V.
Tại"bản"tự"khai"ngày"06/6/2018"người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan"ông"Trịnh" Công"S"trình"bày:
Ông xác nhận ông là nhân viên của VT. Từ ngày 12/5/2017 đến ngày 20/5/2017 ông được VT giao dẫn tour tham quan Thổ Nhĩ Kỳ, trong đó có khách hàng là ông V. Theo lịch trình tour Thổ Nhĩ Kỳ không có chương trình đi khinh khí cầu và xem múa bụng. Tuy nhiên ông V và một số khách hàng có nhu cầu nên đã nhờ ông S hỏi thông tin về giá vé dịch vụ. Sau khi ông S hỏi giá dịch vụ và thông báo cho ông V biết thì ông V đồng ý tham gia và đã thanh toán tiền vé cho hướng dẫn viên Thổ Nhĩ Kỳ (do bên đối tác cử).
Về yêu cầu khởi kiện của ông V thì ông S có ý kiến như sau:
Ông S không tăng giá vé đối với chương trình đi khinh khí cầu và xem múa bụng, ông chỉ hỏi giá dịch vụ bà thông báo cho ông V biết. Khi ở trên xe ông có thu tiền của ông V và giao đầy đủ lại số tiền này cho hướng dẫn viên người Thổ Nhĩ Kỳ trước mặt ông V và khách hàng trên xe.
Bản"án"sơ"thẩm"đã"tuyên"xử:"
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Trí V về việc buộc Công ty cổ phần du lịch và tiếp thi giao thông vận tải Việt Nam – VT trả số tiền 144 USD quy ra tiền Việt Nam là 3.280.320 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự cũng như các quy định về thi hành án dân sự.
Ngày 17/9/2018 nguyên đơn ông Ngô Trí V có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và đơn kháng cáo.
Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau giải quyết vụ án.
Ông V kháng cáo yêu cầu Công ty cổ phần du lịch và tiếp thi giao thông vận tải Việt Nam – VT trả cho ông số tiền 3.280.320 đồng là tiền chênh lệch giá vé khinh khí cầu và xem múa bụng tại Thổ Nhĩ Kỳ mà ông đã phải trả khi du lịch tại Thổ Nhĩ Kỳ. Căn cứ kháng cáo là giá tham khảo trên mạng, tập san quảng cáo trên máy bay, email của ông Tô Hoàng Thiên Â, thừa nhận của hướng dẫn viên Trịnh Công S giá vé chỉ có 85 USD nhưng phía đối tác Thổ Nhĩ Kỳ phải mua bảo hiểm nên thu giá cao hơn. Nếu có mua vé với giá 210 USD thì phải có hóa đơn chứng từ. Bà A đại diện bị đơn yêu cầu giữ nguyên án sơ thẩm. Ông S xin vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc ông V mua vé đi khinh khí cầu và xem múa bụng tại Thổ Nhĩ Kỳ là dịch vụ do ông tự chọn, nằm ngoài giá tour, ông V và công ty cung cấp dịch vụ là đối tác của VT đã thỏa thuận đồng ý về giá và dịch vụ đã thực hiện xong. Sau đó ông V lấy giá ở các nơi khác để tham khảo và khởi kiện bị đơn sau khi đã thực hiện xong dịch vụ ở Thổ Nhĩ Kỳ là không có căn cứ, không đúng các quy định của pháp luật nên không được chấp nhận. Tòa sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V là có căn cứ đúng pháp luật. Ông V kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Do vậy kháng cáo của ông V không được chấp nhận, cần giữ nguyên án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm: ông V phải chịu theo quy định.
Vì"các"lẽ"trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 519 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Trí V.
Giữ nguyên án sơ thẩm.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Trí V về việc buộc Công ty cổ phần du lịch và tiếp thị giao thông vận tải Việt Nam – VT trả số tiền 144 USD quy ra tiền Việt Nam là 3.280.320 đồng (Ba triệu hai trăm tám mươi nghìn ba trăm hai mươi đồng).
2. Án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Ngô Trí V phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2017/0019338 ngày 25/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Quận Z. Ông V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Ngô Trí V phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2017/0021373 ngày 18/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự Quận Z. Ông V đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Các đương sự thi hành án theo các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi!nhận:!
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND Tối cao;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Q.Z;
- Chi cục THADS Q.Z;
- Các đương sự;
- Lưu HS.
Vũ Thị Xuân Trang