vanban.org

Bản án 117/2025/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tống Minh G - Chủ Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T. Buộc anh Trần Thanh S phải có nghĩa vụ trả cho anh Tống Minh G - Chủ Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T số tiền 10.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu thêm khoản lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. 2- Án phí : Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "HĐ MUA BÁN TÀI SẢN NHÀ MÁY T - S"
  • Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tống Minh G - Chủ Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T. Buộc anh Trần Thanh S phải có nghĩa vụ trả cho anh Tống Minh G - Chủ Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T số tiền 10.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 117/2025/DS - ST.
Ngày 19/5/2025.
Về việc tranh chấp: “ Hợp đồng
mua bán tài sản” .

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Chương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Trung Nhân.

2. Ông Quách Trung Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tín - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.

Ngày 19/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 708/2024/TLST-DS ngày 18/12/2024 về việc tranh chấp“ Hợp đồng mua bán tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2025/QĐXXST- DS, ngày 11/4/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T.

Trụ sở: ấp X, xã Y, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo pháp luật: Anh Tống Minh G, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Chổ ở hiện nay: ấp X, xã Y, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.( có mặt).

* Bị đơn: Anh Trần Thanh S, sinh năm 1980. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đại diện nguyên đơn Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T là anh Tống Minh G trình bày:

Anh Tống Minh G là chủ Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T chuyên cán tôn, mua bán sắt thép và thiết bị vật tư điện nước. Anh Trần Thanh S là khách hàng của anh bắt đầu thực hiện mua bán hàng từ tháng 10/2022 đến ngày 15/10/2023 chốt lại nợ thì anh Sáng còn nợ với tổng số tiền là 9.082.000 đồng nhưng anh Sáng không trả mặc dù anh có yêu cầu nhưng anh Sáng né tránh và kéo dài cho đến nay.

Nay anh Giàu khởi kiện yêu cầu anh Sáng phải trả số tiền là 9.082.000 đồng, làm một lần kể từ khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu tính lãi từ ngày 15/10/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

Tại phiên toà hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết vụ án anh Trần Thanh S vắng mặt nhưng đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, kết quả hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của anh Giàu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu tranh luận của các đương sự Hội đồng xét xử có nhận định:

- Về tố tụng:

1.1- Anh Trần Thanh S đã được tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Sáng.

1.2- Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của anh Tống Minh G - Chủ Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T yêu cầu anh Trần Thanh S trả số tiền 9.082.000 đồng về việc mua bán hàng hóa nên xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào địa chỉ sinh sống của anh Trần Thanh S ở ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ tranh chấp được xác định là hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự .

- Về nội dung: Căn cứ vào đơn khởi kiện, bản tự khai của đương sự và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn anh Tống Minh G - Chủ Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T có bán hàng hóa cho anh Trần Thanh S việc mua bán này hai bên có làm giấy biên nhận và xác định còn nợ lại anh Giàu với số tiền 9.082.000 đồng nhưng đến nay không trả là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó anh Giàu khởi kiện yêu cầu anh Sáng trả số tiền 9.082.000 đồng là có căn cứ phù hợp Điều 440 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Giàu.

- Về lãi suất anh Giàu yêu cầu tính lãi số tiền 9.082.000 đồng từ ngày 15/10/2023 cho cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 17 tháng với mức lãi suất là 0,83%/ tháng phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Số tiền lãi được tính như sau: 9.082.000 đồng x 17 tháng x 0,83% = 1.281.470 đồng.

Tổng cộng tiền gốc và lãi anh Sáng phải trả cho anh Giàu là 9.082.000 đồng + 1.281.470 đồng tiền lãi = 10.363.470 đồng.

- Bị đơn anh Trần Thanh S đã được triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đến yêu cầu khởi kiện của anh Giàu, điều đó cho thấy anh đã đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh Giàu và được xác định là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét thấy số tiền trên đáng lẽ ra anh Sáng phải trả đúng theo thoả thuận nhưng kéo dài đến nay là vi phạm nghĩa vụ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh Giàu.

- Về án phí : Anh Trần Thanh S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 468 , Điều 430 và Điều 440 Bộ luật dân sự;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:

1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tống Minh G - Chủ Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T. Buộc anh Trần Thanh S phải có nghĩa vụ trả cho anh Tống Minh G - Chủ Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T số tiền 10.363.470 đồng, kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu thêm khoản lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2- Án phí :

- Anh Trần Thanh S phải chịu 518.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn lại cho anh Tống Minh G - Chủ Hộ kinh doanh nhà máy cán tôn T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 00016307 ngày 18/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.

4- Anh Tống Minh G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Trần Thanh S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ