- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành D - Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày 18-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Minh Đức và bà Dương Thị Hiền.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Như Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà:
+ Ông Nguyễn Văn Quyên - Kiểm sát viên.
+ Bà Lê Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Thành D, sinh ngày 10/9/1986 tại xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: thôn N, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Bùi Thị Ng (đã chết); có vợ là Lương Thị H (đã ly hôn), con: không. Tiền án: Ngày 14/8/2020, Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 10/02/2022 Nguyễn Thành D chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp 200.000 đồng án phí; ngày 29/3/2023, Toà án nhân dân huyện Gi, thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 30/4/2024, Nguyễn Thành D chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự 300.000 đồng và trách nhiệm bồi thường 5.500.000 đồng. Tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 08/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 17/10/2024 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ ngày 08/10/2024, tại đoạn đường nhựa thuộc thôn Đội 5, xã Ng, huyện B, tổ công tác Công an xã Ng phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thành D đang có hành vi cất giữ trong lòng bàn tay trái 01 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng có in chữ màu đen, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Nguyễn Thành D khai nhận là Heroine vừa đi mua được với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lực lượng Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng gồm 01 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng có in chữ màu đen, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, niêm phong trong phong bì ký hiệu QT.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thành D khai nhận: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 08/10/2024, D một mình đi bộ từ nhà và đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến khu vực xã Ng, huyện B tìm mua Heroine về sử dụng. Tại đây, D gặp một người đàn ông dáng người giống người nghiện ma túy đang đứng một mình ở lề đường. D lại gần và hỏi người đó “có không để cho cái hai” (ý D hỏi mua 200.000 đồng tiền ma tuý loại Heroine); người đàn ông đó nói “đưa tiền đây”. D lấy trong túi quần phía trước bên phải 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng đưa cho người đàn ông. Sau khi nhận tiền, người đàn ông đưa lại cho D 01 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng có in chữ màu đen. D biết đó là Heroine nên cầm trong lòng bàn tay trái và đi bộ quay lại đường cũ. Khi đi đến đoạn đường nhựa thuộc thôn Đội 5, xã Ng, huyện B thì bị lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra. D đã tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng có in chữ màu đen, bên trong có chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là gói Heroine, D vừa mua với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành D tại thôn N, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam. Quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại Kết luận giám định số 642/KL-KTHS(MT) ngày 09/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: “Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu QT có khối lượng là 0,133 gam, là ma tuý, loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine…”.
Cáo trạng số 118/CT-VKS-MT ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam truy tố Nguyễn Thành D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng hoàn trả sau giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nói sau cùng của bị cáo, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành D đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 08 giờ ngày 08/10/2024, tại đoạn đường nhựa thuộc thôn Đội 5, xã Ng, huyện B, tỉnh Hà Nam; Nguyễn Thành D đang cất giữ trái phép 0,133 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo D đã có 02 tiền án, tại Bản án số 38/2023/HSST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gi, thành phố Hà Nội có hiệu lực pháp luật, bị cáo đã bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm”, chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Do vậy, hành vi của Nguyễn Thành D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá khách quan, toàn diện vụ án cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam thấy bị cáo không có tài sản riêng gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy Heroine hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác trong vụ án: Về nguồn gốc số Heroine đã thu giữ và các đối tượng có liên quan, tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án không đủ căn cứ để xác định, làm rõ nguồn gốc, đối tượng đã bán Heroine cho Nguyễn Thành D và người đàn ông cho D đi nhờ xe. Do vậy, không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/10/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy Heroine hoàn trả sau giám định trong 01 phong bì niêm phong có số 642/KL-KTHS(MT).
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Lục và Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Hà Nam ngày 21/11/2024).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thành D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Bình Lục; - Công an huyện Bình Lục; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Chi Cục THA dân sự huyện B; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hằng |