vanban.org

Bản án 117/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Điêu Văn S phạm tội "Tàng trữ tái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Điêu Văn S 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về. Thời hạn tù tính từ ngày 14/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Điêu Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––
Bản án số: 117/2023/HSST
Ngày: 31/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Định

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Thu Hà

2. Bà Tạ Thị Nành

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Hà Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 115/2023/TLST - HS, ngày 12 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Điêu Văn S (Tên gọi khác: Không); giới tính: N, sinh ngày 16/10/1997 tại tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nơi cư trú: bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12 phổ thông; con ông Điêu Văn T và bà Lò Thị V; vợ: Lò Thị X và có 01con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 13 tháng 5 năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ quyết định "Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc", thời hạn 24 tháng, theo Quyết định số 27/QĐ-TAND. Ngày 16/4/2018, chấp hành xong toàn bộ quyết định trên. Được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/02/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Điêu Văn S là người thiếu ý thức chấp hành pháp luật và sử dụng chất ma túy. Khoảng10 giờ 30 phút ngày 14/02/2023, S thuê xe ôm của Nguyễn Văn S1 chở xuống bản X, xã T, huyện Đ tìm mua ma tuý sử dụng. Đến nơi, S trả cho anh S1 50.000 đồng và bảo đợi ở đầu bản, còn S một mình đi bộ vào trong bản gặp, mua được 01 gói Heroine, được gói bằng nilon màu trắng của một người thanh niên không quen biết với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S cầm ở trong lòng bàn tay phải rồi ra bảo anh S1 chở về. Hồi 11 giờ 50 phút cùng ngày, khi về đến đầu đường N, thuộc tổ dân phố B, phường M, thành phố Đ thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ: 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa các cục bột thể rắn nghi là Heroine.

Cáo trạng số 67/CT-VKSTPĐBP ngày 12/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ để xét xử bị cáo Điêu Văn S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu: Với hành vi bị cáo S đã thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo S từ 13 tháng 16 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

Về vật chứng vụ án, vật tạm thu, tạm giữ: Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu 0,14 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh giấy nilon màu trắng.

Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, do bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Tại phiên tòa, bị cáo S nhất trí với quyết định truy tố và lời luận tội của đại diện viện Kiểm sát đối với tội danh và hình phạt của mình, không có lời bào chữa, không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin được miễn án phí và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; biên bản niêm phong, mở niêm phong tài liệu, đồ vật tạm giữ, giao nhận đối tượng giám định; kết luận giám định; phù hợp lời khai của người liên quan Nguyễn Văn S1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 11 giờ 50 phút ngày 14/02/2023, tại khu vực tổ dân phố B, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Điêu Văn S đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,21 gam Heroine, mục đích để sử dụng; bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

. Về tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo trong vụ án thấy rằng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như chính sách pháp luật đối với các loại tội phạm này. Bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp, do bản thân nghiện, sử dụng trái phép chất ma túy, để có ma túy sử dụng thỏa mãn cho bản thân nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn cần phải xử lý nghiêm.

. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng, Điêu Văn S là người thiếu ý thức chấp hành pháp luật và sử dụng chất ma túy. Ngày 13 tháng 5 năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ áp dụng biện pháp xử lý hành chính "Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc", thời hạn là 24 tháng, tại Quyết định số: 27/QĐ-TAND. Ngày 16/4/2018, chấp hành xong toàn bộ quyết định trên. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo nhận thức được về hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tương ứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với loại tội phạm này thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người làm ruộng, thu nhập chỉ đủ chi tiêu trong gia đình, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng vụ án, vật tạm thu, tạm giữ: Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,14 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu trắng, vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng.

. Án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác:

- Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với cho bị cáo.

- Nguyễn Văn S1 không biết việc S thuê xe ôm để đi mua ma túy nên không đặt vấn đề xử lý.

- S khai mua Heroine của một người đàn ông không quen biết nên không có cơ sở điều tra làm rõ, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 38; Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

Điều 135, Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Điêu Văn S phạm tội "Tàng trữ tái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Điêu Văn S 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về. Thời hạn tù tính từ ngày 14/02/2023.

2. Vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ: Tịch thu tiêu hủy 0,14 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ.

4. Án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 31/5/2023).

Cỡ chữ