vanban.org

Bản án 117/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN PHONG
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/HSST
Ngày 30/8/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thơm

Bà Đặng Thị Thập

Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Bích Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2023/HSST, ngày 10 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HS ngày 15/8/2023 đối với bị cáo:

Bàn Sinh T, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn Roỏng Tặc, xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bàn Tiến Hiang (đã chết) và bà Bàn Thị Phin, sinh năm 1953; gia đình bị cáo 05 chị em, bị cáo là con thứ 4; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định số 98 ngày 30/6/2021, của Ủy ban nhân dân xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 06 tháng đối với T về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tam giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Bàn Sinh T: Bà Nguyễn Thị Cúc, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bắc Ninh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người tham gia tố tụng khác:

1. Ông Nguyễn Đức Điềm - Cán bộ tin học Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

2. Ông Trần Văn Đồng - Cán bộ Công an huyện Yên Phong.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/6/2023, tại thôn Yên Hậu, xã Hòa Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Công an xã Hòa Tiến, huyện Yên Phong bắt quả tang Bàn Sinh T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: Tại túi áo phía trước bên phải đang mặc của Bàn Sinh T 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. T khai là ma túy Heroine vừa mua được (được niêm phong trong phong bì thư).

Tại bản kết luận giám định số 1265/KL-KTHS ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1242 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ Luật hình sự 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.”.

Bản cáo trạng số 109/CT-VKSYP ngày 09/8/2023 của VKSND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh truy tố Bàn Sinh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng và khai nhận: T là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Do cần ma túy để sử dụng nên khoảng 14 giờ ngày 14/6/2023, T đi xe ôm của người không quen biết từ khu trọ của bạn T ở thôn Phú Đức, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong đến khu vực Ủy ban nhân dân xã Hòa Tiến, huyện Yên Phong tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp 01 người thanh niên không quen, biết đang ngồi trên xe mô tô đỗ ở đường (không nhớ nhãn hiệu và biển kiểm soát). T hỏi người này: “Có hàng Heroine không, bán cho 200.000 đồng”. Người này trả lời: “Có”. T đưa cho người thanh niên 200.000 đồng. Người này đưa lại cho T 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine. T cầm túi ma túy ở cất vào túi áo phía trước bên phải đang mặc định tìm nơi sử dụng, thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Người bào chữa cho bị cáo là bà Nguyễn Thị Cúc, trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bắc Ninh có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo: bị cáo T là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có T sản riêng, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo có nhận thức hạn chế; đề nghị HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí sơ thẩm cho bị cáo T.

Đại diện VKSND huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa luận tội đã giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Bàn Sinh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tuyên phạt bị cáo từ 18 đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2023. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định và 01 que thử nước tiểu của bị cáo. Lưu hồ sơ 01 đĩa CD hỏi cung Bàn Sinh T.

Bị cáo không tranh luận, đối đáp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, T liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên toà.

̀

HỘI ĐÔNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện Yên Phong, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, T liệu có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/6/2023, tại thôn Yên Hậu, xã Hòa Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Bàn Sinh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi Heroine có khối lượng 0,1242 gam, mục đích để sử dụng. Do vậy, đại diện VKSND huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, tiếp tay cho những người nghiện ma túy, là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm, các tệ nạn xã hội khác. Chính vì vậy, phải xử lý nghiêm bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ tính chất vụ án cần buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian nhất định tương xứng với hành vi của bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo và giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật.

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, đồng thời bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, vì vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp.

[3] Liên quan trong vụ án còn có đối tượng bán ma túy cho T. Tuy nhiên, T không biết tên, tuổi, địa chỉ của nngười này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[4] Về vật chứng: Đối với ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành, que thử nước tiểu là vật không có giá trị sử dung cần tịch thu tiêu huỷ. Lưu hồ sơ 01 đĩa CD hỏi cung Bàn Sinh T.

[5] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bàn Sinh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt:

Bàn Sinh T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/6/2023. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (30/8/2023) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1265/KL-KTHS ngày 16/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh và 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong chứa que thử nước tiểu của T.

Lưu hồ sơ 01 đĩa CD hỏi cung Bàn Sinh T.

(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bàn Sinh T.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thơm

Đặng Thị Thập

Vũ Thu Trang

Cỡ chữ