vanban.org

Bản án 117/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 11/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 27/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/HS-ST
Ngày 11-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Thanh Văn;

Bà Nguyễn Thị Lại;

- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Thu Hương, Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh

Bắc Giang xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2023/TLST-HS ngày 26

tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST-HS

ngày 09 tháng 6 năm 2023; thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 04 ngày

22 tháng 6 năm 2023 đối với:

- Bị cáo: Hoàng Văn T, sinh ngày 11/12/1994 tại huyện Hạ Lang, tỉnh Cao

Bằng. Nơi đăng kí thường trú và chỗ ở: Xóm N, xã Đ, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao

Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới

tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Khiêm (đã

chết) và bà Nông Thị P; có vợ là Hoàng Thị B và 01 con;

Tiền án: Tại Bản án số 04/2018/HS-ST ngày 30/01/2018 của Tòa án nhân

dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng đã xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù về tội

Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí hình sự, án phí dân

sự, chưa chấp hành phần bồi thường dân sự);

Tiền sự, nhân thân: Không có;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2023, hiện đang bị tạm giam

tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên toà)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hoàng Thị B, sinh

năm 1995; địa chỉ: Thôn V 3, xã V, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. (có mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn C (vắng mặt).

2. Bà Dương Thị T (vắng mặt).

Đều trú tại: thôn V 3, xã V, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn T là người nghiện ma túy Heroine. Do có nhu cầu sử dụng ma

túy nên khoảng 18 giờ ngày 26/02/2023, Hoàng Văn T đi bộ một mình từ phòng trọ ở thôn V 3, xã V, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đến khu vực bãi đất trống thuộc thôn V 4, xã V, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang để mua ma túy về sử dụng. Tại đây Hoàng Văn T gặp một người thanh niên tên là P khoảng 25 tuổi, cao khoảng 1,65m, nặng khoảng 60kg, nhuộm tóc màu đỏ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ đặc điểm và nhận dạng được người tên P do mua ma túy lần đầu và trời tối). Hoàng Văn T bảo P bán cho 1.400.000 đồng tiền ma túy Heroine, đồng thời đưa cho P số tiền 1.400.000 đồng. P cầm tiền rồi đưa lại cho Hoàng Văn T 08 gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc, bên trong mỗi gói giấy bạc đều chứa cục bột màu trắng là chất ma túy Heroine. Hoàng Văn T cầm lấy số ma túy trên rồi đút vào túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc rồi đi về phòng trọ của mình. Tại đây, Hoàng Văn T đã sử dụng 03 gói chất ma túy, 05 gói chất ma túy còn lại Hoàng Văn T cất giấu trong túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc của mình với mục đích sử dụng dần. Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 27/02/2023, Hoàng Văn T mặc chiếc áo khoác trên đi từ phòng trọ ra ngoài với mục đích tìm nơi sử dụng; khi Hoàng Văn T vừa ra đến khu vực để xe của nhà trọ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an xã V, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt quả tang. Thu tại túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc của Hoàng Văn T 05 gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, bên trong mỗi gói giấy bạc đều chưa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroine. Toàn bộ số ma túy thu giữ được niêm phong trong phong bì được ký hiệu “QT”.

Tại Bản kết luận giám định số 368/KL-KTHS ngày 03/3/2023 của Phòng Kỹ

thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 05 (năm) gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc là ma túy, tó tổng khối lượng 0,429 gam, loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetymorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 25/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân

huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của

bản thân như nội dung Cáo trạng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Hoàng Thị B khai

nhận chị là vợ của bị cáo tuy nhiên không được biết việc bị cáo Hoàng Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bà Th là chủ nhà trọ không biết việc T tàng trữ sử dụng trái phép chất ma

tuý, đến khi T bị bắt quả tang thì bà Thi mới biết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo

và đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản

1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Hoàng Văn T

từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý

vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 (một) căn cước công dân mang tên Hoàng Văn

T, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư đựng mẫu vật ma tuý còn lại sau giám

định.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm

sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt

cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong

quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy

định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên

tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại

về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định

tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân

như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với với biên bản bắt

người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ

vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Hồi 10 giờ 10

phút ngày 27/02/2023 tại khu vực để xe nhà trọ của bà Dương Thị Thi, Công an

huyện Việt Yên phối hợp với Công an xã V phát hiện, bắt quả tang Hoàng Văn T

đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,429 gam chất ma túy Heroine với mục đích

để sử dụng. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh

Bắc Giang truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy

định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng

người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm

phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm

trật tự, an toàn xã hội, gây hoàng mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo

là người có thể chất phát triển bình thường, có năng lực hành vi, năng lực trách

nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tang trữ trái phép chất ma túy là vi phạm

pháp luật nhưng vẫn cố ý vi phạm.

Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân xấu, có 01

tiền án chưa được xóa án tích. Cụ thể: Tại Bản án số 04/2018/HS-ST ngày 30/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng đã xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành phần bồi thường dân sự, án phí hình sự, án phí dân sự)

Về tình tiết tăng nặng: Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp

tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã

thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Từ những phân tích trên, cần xử phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra

khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc diện hộ và không có nghề nghiệp

và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo: Ngày

27/02/2023 Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với bị cáo, kết quả bị cáo dương tính với chất ma túy Heroine. Ngày 04/5/2023 Công an huyện Việt Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng đối với Hoàng Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với người nam thanh niên tên P đã bán ma túy cho bị cáo, qua xác

minh tại Công an xã V không có người thanh niên nào có đặc điểm như bị cáo khai có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy tại thôn V 4, xã V, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo không biết rõ họ, tên đệm, năm sinh, địa chỉ cụ thể, không nhớ đặc điểm, không nhận dạng được người tên P nên Cơ quan điều tra đã tách các tài liệu liên quan đến người này ra khỏi hồ sơ vụ án để xác minh, xử lý sau là có căn cứ.

Đối với chị Hoàng Thị B là vợ của bị cáo và bà Dương Thị Thi là chủ

khu nhà trọ của bị cáo không biết việc bị cáo có hành vi tang trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên không vi phạm pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm

phong trong phong bì có ký hiệu “QT” là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy. 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Văn T không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số, sinh

sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h

khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Hoàng

Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam

27/02/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy một phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định.

Trả lại cho bị cáo: một căn cước công dân mang tên Hoàng Văn T.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng

hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-

12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự

sơ thẩm cho bị cáo.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị

cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành

án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả

thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng

chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân

sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành

án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Cỡ chữ