- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2023/HNGĐ-ST Ngày 29/5/2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Minh Khánh
Bà Nguyễn Thị Bích
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 29/5/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 81/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/4/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12/5/2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Phấn Sơn, xã Đồng Sơn, TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1996 (Vắng mặt)
HKTT: thôn Phấn Sơn, xã Đồng Sơn, TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ
Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh Đ tại Việt Nam: thôn Phấn Sơn, xã Đồng Sơn, TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn với nhau ngày 22/5/2019, việc kết hôn trên cơ sở tình cảm đôi bên, tự do tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức đám cưới. Anh chị đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang theo đúng quy định pháp luật. Sau khi kết hôn, chị về sinh sống tại nhà chồng ở cùng làng thôn Phấn Sơn, xã Đồng Sơn, TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn chung sống hạnh phúc sau khi kết hôn được 2 tháng thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng với nhau về quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích, cã vã hằng ngày. Khi chị có thai đã phải về nhà bố mẹ đẻ ở cùng làng sống nhưng anh Đ cũng không hề hỏi han đến vợ. Sau khi chị sinh con xong thì anh Đ sang nhà nói chuyện việc không còn tình cảm với chị nữa và không có mong muốn hàn gắn để chăm lo cho con cái. Từ đó anh Đ cũng không hề hỏi han gì đến mẹ con chị. khi anh Đ đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài cũng không cho chị biết. Hiện nay giữa chị và anh Đ không còn liên lạc với nhau, anh Đ vẫn ở Đài Loan không về nước, cũng không cho chị biết địa chỉ cụ thể của anh Đ ở Đài Loan, vợ chồng xa nhau thời gian dài, bất đồng quan điểm sống và hiện tại không còn tình cảm gì với nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Linh H, sinh ngày 19/5/2020. Hiện nay cháu H đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi Tòa án giải quyết ly hôn thì chị đề nghị giao cháu Nguyễn Linh H cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không đề nghị anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị làm nghề tự do và thu nhập ổn định, thu nhập khoảng 7 triệu đồng /1 tháng nên có đủ khả năng để chăm sóc con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Nguyễn Văn Đ hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Đ đến nay không nhận được thông tin của anh Đ.
* Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua mẹ đẻ của anh Đ là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; địa chỉ: thôn Phấn Sơn, xã Đồng Sơn, TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, bà có quan điểm trình bày như sau: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Đ, anh Đ hiện nay đang đang làm ăn ở Đài Loan. Về địa chỉ cụ thể của anh Đ ở Đài Loan thì anh không cho bà biết cụ thể nên không cung cấp cho Tòa án được, tuy nhiên anh Đ vẫn thường liên lạc với gia đình qua mạng xã hội. Từ khi anh Đ đi nước ngoài thì chị N về ở nhà bố mẹ đẻ ở cùng thôn và hiện nay 2 mẹ con chị N vẫn đang ở nhà bố mẹ đẻ ở cùng thôn. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị N xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Đ vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 150; khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Linh H cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Tài sản chung, công nợ: chị N không đề nghị nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị N có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn Đ. Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang nhưng đang cư trú ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 28680/QLXNC-P5 ngày 30/12/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì anh Đ đã xuất cảnh ra nước ngoài từ ngày 13/12/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh Nguyễn Văn Đ được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị N vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị H là mẹ đẻ của anh Đ xác định bà vẫn thường liên hệ với anh Đ qua mạng xã hội, về địa chỉ của anh Đ ở Đài Loan thì bà không biết nên bà không cung cấp cho Tòa án được. Đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Đ theo quy định tại khoản 5 Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp.
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn Đ đăng ký kết hôn ngày 22/5/2019 tại UBND xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh Đ. HĐXX thấy: Theo chị N trình bày thì chỉ thời gian ngắn sau khi kết hôn thì anh chị đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng với nhau về quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích, cã vã hằng ngày. Khi chị N có thai đã phải về nhà bố mẹ đẻ ở cùng làng sống nhưng anh Đ cũng không hề hỏi han đến vợ. Sau khi chị sinh con thì anh Đ nói không còn tình cảm với chị nữa và không có mong muốn hàn gắn. Từ đó anh Đ cũng không hề hỏi han gì đến mẹ con chị, khi anh Đ đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài cũng không cho chị biết. Đến nay giữa chị và anh Đ không còn liên lạc với nhau. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
. Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn Đ có 01 con chung là Nguyễn Linh H, sinh ngày 19/5/2020. Sau khi ly hôn chị N đề nghị được nuôi con chung. HĐXX thấy: Tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án anh Đ không có mặt ở tại địa phương, không có địa chỉ cụ thể, cháu H đang ở ổn định với chị N Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Linh H. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 150; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Linh H, sinh ngày 19/5/2020 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000014 ngày 17/03/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo:
- Anh Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang - UBND xã Đồng Sơn, TP Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử TANDTC; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |