- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Kiều Ngân khởi kiện xin ly hôn với anh Phạm Trọng Hữu"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kiều N và anh Phạm Trọng H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18-8-2023 V/v Ly hôn giữa chị N và anh H. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Phụng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Hùng Dũng
2. Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2023 về việc: Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn, nghĩa vụ chung. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2023/QĐXX-ST ngày 13 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều N, sinh năm 1997; Trú tại: Ấp T, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Bị đơn: Anh Phạm Trọng H, sinh năm 1997; Trú tại: Ấp T, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị S, sinh năm 1973; Trú tại: Ấp T, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào khoảng năm 2017, do quen biết, tìm hiểu, chị Nguyễn Thị Kiều N và anh Phạm Trong Hữu tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc nhưng sau này phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H có mối quan hệ với người phụ nữ khác. Chị N nhiều lần khuyên ngăn anh H cắt đứt mối quan hệ này nhưng anh H không thay đổi dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau và tình cảm vợ chồng không còn nên chị N bỏ nhà đi sống ly thân từ tháng 03/2022 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được nên chị N xin được ly hôn với anh H.
Về con chung: Không có..
Về tài sản chung: Vợ chồng có 10 chỉ vàng 24k, hiện bà Trần Thị S đang quản lý. Chị N yêu cầu bà S có trách nhiệm giao lại cho vợ chồng và yêu cầu chia đôi số vàng trên mỗi người 05 chỉ vàng 24k. Quá trình giải quyết cũng như tại phiên toà, chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung và xin rút yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng.
Về nghĩa vụ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm bị đơn anh Phạm Trọng H vắng mặt không rõ lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kiều N và anh Phạm Trong Hữu.
Về nuôi con chung: Không có.
Về chia tài sản chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.
Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị N.
Về nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu của nguyên đơn thì tranh chấp giữa các bên được xác định là tranh chấp về Ly hôn, về nuôi con chung, chia tài sản khi ly hôn và nghĩa vụ chung. Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc tham gia tố tụng: Bị đơn anh Phạm Trọng H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị S cùng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ tiến hành xét xử vắng mặt anh H và bà S.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị N và anh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, có cơ sở xác định mối quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H là hợp pháp. Chị N xác định thời gian đầu chung sống, tình cảm vợ chồng hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H có mối quan hệ với người phụ nữ khác. Chị N nhiều lần khuyên ngăn anh H chấm dứt mối quan hệ này nhưng anh H không thay đổi. Từ đó, tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên vợ chồng sống ly thân với nhau. Thời gian sống ly thân, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị N nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, Tòa án thụ lý giải quyết thì cũng tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh H đều vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, chị N cương quyết xin ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh H, anh H tiếp tục vắng mặt không rõ lý do. Điều đó chứng tỏ, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị N xin ly hôn với anh H là có cơ sở nên chấp nhận.
Về nuôi con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung; nghĩa vụ chung: Chị N xác định không có nhưng quá trình giải quyết vụ án, anh H vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến của anh H về tài sản chung và nghĩa vụ chung. Do đó, tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi phát sinh tranh chấp.
Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung về việc yêu cầu chia đôi 10 chỉ vàng 24k, do chị N rút đối với yêu cầu này.
Án phí: Nguyên đơn chị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Từ những căn cứ trên, việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kiều N và anh Phạm Trọng H.
2. Về nuôi con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
3. Về chia tài sản chung; nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.
Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị N về việc yêu cầu chia đôi 10 chỉ vàng 24k
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kiều N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 925.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009869 ngày 14 tháng 4 năm 2023. Chị N được nhận lại số tiền 625.000 đồng.
5. Án tuyên công khai, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
6. Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7 a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ; - UBND xã Đông Hiệp; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Võ Minh Phụng |