- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Bể phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2022/HSST Ngày: 23/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Hải;
2. Bà Nguyễn Thị Thanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Ông Đào Việt Yên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 113/2022/TLST - HS ngày 09/9/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2022/QĐXX ngày 12/9/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình B ; Tên gọi khác: Không;sinh năm1974
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn An Cảnh, xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Chỗ ở hiện nay: Xóm Khe Đù, xã Phúc Thuận, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hoá: 3/12. Con ông: Nguyễn Đình K (đã chết); con bà: Nguyễn Thị N (sinh năm 1941). Bị cáo có 05 chị em, Bể là con thứ ba; Có hai vợ: Vợ thứ nhất là: Nguyễn Thị L (đã ly hôn), có 02 con chung: lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2001; Vợ thứ hai là: Đỗ Thị V (đã ly hôn), có 01 con chung sinh năm 2008.
Tiền án: (01) Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2019/HSST ngày 22/10/2019, bị Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chưa chấp hành xong bản án, chưa được xoá án tích.
Tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Nguyễn Đình B bị bắt tạm giữ từ ngày 15/6/2022, đến ngày 23/6/2022 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phổ Yên,tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Người chứng kiến:
1. Anh Nguyễn Hùng H , sinh năm 1980; Trú tại: xóm Bãi Hu, xã Phúc Thuận, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
2. Chị Nguyễn Thị T , sinh năm 1986; Trú tại: xóm Bãi Hu, xã Phúc Thuận, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 15 phút ngày 15/6/2022, tổ công tác Công an xã Phúc Thuận, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực xóm Bãi Hu, xã Phúc Thuận, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Nguyễn Đình B đang đi bộ tại lề đường tỉnh lộ 261 hướng Phúc Thuận – Đại Từ có biểu hiện nghi vấn, tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tiến hành kiểm tra, Bể đã tự nguyện lấy ra từ túi quần phía trước bên trái Bể đang mặc 01 gói giấy, một mặt nhiều màu, một mặt màu trắng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục. Theo Bể khai, số chất rắn màu trắng đục trên là ma tuý loại Heroine của B , B mua về để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện. Tổ công tác Công an xã Phúc Thuận tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng ký hiệu A1 và bàn giao đối tượng Nguyễn Đình B cùng toàn bộ hồ sơ, tài liệu cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 22 giờ 20 phút ngày 15/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong vật chứng ký hiệu A1 bên trong có 01 gói giấy bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục, cân trọng lượng vật chứng và lấy mẫu giám định; kết quả: Sử dụng cân điện tử tại Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Thái Nguyên cân khối lượng chất rắn màu trắng đục được 0,116 gam (đã trừ bì). Tất cả số chất rắn màu trắng đục nêu trên được cho vào phong bì màu trắng dán kín niêm phong lại ký hiệu M để gửi giám định tại Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an tỉnh Thái Nguyên theo quy định; Vỏ bao mẫu của phong bì niêm phong ký hiệu A1 được niêm phong ký hiệu L để lưu kho.
Cùng ngày 25/6/2021, CQĐT Công an thành phố Phổ Yên ra Quyết định trưng cầu giám định số 190/CSĐT đối với mẫu niêm phong ký hiệu M thu của Dương Đình Bể yêu cầu giám định để xác định các chất thu giữ có phải là ma túy không? nếu ma túy là loại gì, khối lượng của mẫu giám định là bao nhiêu?
Tại bản Kết luận giám định số 880/KL - KTHS ngày 23/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận:
Chất rắn màu trắng đục trong phong bì ký hiệu M gửi giám định là chất ma tuý; loại Heroine, có khối lượng: 0,116 gam.
Quá trình điều tra, Dương Đình B khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 15/6/2022, B đi nhờ xe của người đi đường từ nhà tại xóm Bãi Hu, xã Phúc Thuận, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để mua ma tuý về sử dụng. Đến nơi, B xuống xe và đi bộ đến trước cửa một ngôi nhà có cửa sắt đóng kín nằm bên trái hành lang Quốc lộ 3 (cũ) hướng Thái Nguyên – Hà Nội, rồi đưa số tiền 200.000đồng qua lỗ cửa nhỏ sát nền bê tông vào bên trong thì trong nhà có người cầm tiền và đưa lại cho Bể 01 gói giấy, bên trong có chứa ma tuý loại Heroine. Mua được ma tuý, B về nhà và lấy ra một phần nhỏ ma tuý trong số ma tuý vừa mua được để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, B cất số ma tuý còn lại vào túi quần phía trước bên trái rồi đi đến quầy thuốc Phong Thuỷ tại xóm Bãi Hu, xã Phúc Thuận, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để mua xi lanh về tiếp tục sử dụng ma tuý. Khi B đang đứng trước quầy thuốc thì bị lực lượng Công an xã Phúc Thuận kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. B đã tự giao nộp toàn bộ số ma túy cho lực lượng Công an. Bể xác nhận mục đích mua ma túy là để sử dụng cho bản thân do nghiện, ngoài ra không có mục đích mua, bán.
Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 128/CT - VKSPY ngày 09/9/2022, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Nguyễn Đình Bể về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:
Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng.
Xét về nhân thân: Nguyễn Đình B có 01 tiền án chưa được xoá án, lần phạm tội này là tái phạm.
Tình tiết giảm nhẹ được hưởng: Bị cáo B được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (tái phạm).
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Bể phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 - 30 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 0,106 gam Heroine hoàn lại sau giám định và 01 (một) phong bì niêm phong màu trắng ký hiệu L bên trong đựng vỏ bao mẫu niêm phong vật chứng thu giữ;
Bị cáo được quyền kháng cáo và phải chịu án phí HSST theo quy định.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm.
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện VKS thành phố Phổ Yên không đưa ra quan điểm đối đáp tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng lượng khoan hồng với mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Người chứng kiến vắng mặt mặt tại phiên toà không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc người chứng kiến vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật;
. Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Đình B khai nhận: Do là người nghiện ma tuý nhiều năm nên thông qua bạn bè giới thiệu nơi bán ma tuý tại ngôi nhà cổng sắt đóng kín thuộc TDP Kim Tỉnh, phường Trung Thành, TP Phổ Yên, ngày 15/6/2022 bị cáo đã đi nhờ xe của một người đi đường, khi đến nơi bị cáo chỉ việc đưa số tiền 200.000đ, qua lỗ nhỏ sát nền bê tông cánh cổng sắt được người bên trong đưa cho gói giấy chứa ma tuý. Khi mua xong, bị cáo cất gói ma tuý vào trong túi quần phía trước, bên trái rồi đi ra hiệu thuốc mua xi lanh định sử dụng thì bị lực lượng Công an làm nhiệm vụ bắt giữ, bị cáo ý thức được cất ma tuý trong túi là vi phạm nên giao nộp toàn bộ.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đình B tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15giờ 15 phút, ngày 15/6/2022, tại khu vực xóm Bãi Hu, xã Phúc Thuận, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Đình B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,116 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo xác định việc mua ma tuý là để phục vụ việc nghiện, không có đồng phạm tham gia và không có mục đích mua bán trái phép chất ma tuý.
. Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc bị cáo Nguyễn Đình B cất giấu 0,116 gam ma túy loại Heroine trong người đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố về tội danh và điều luật viện dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Cụ thể nội dung Điều 249 BLHS có nội dung:
“1. Người nào Tàng trữ trái phép chất ma túy, mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy…thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
c) Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi (Heroine) là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 9, Nghị định 73/2018/NĐ
- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ (danh mục I là các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội). Hành vi của bị cáo cũng đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, tiếp tay cho tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng, huỷ hoại lối sống, nhân cách của một số thanh niên hiện nay, gây mất trật tự trị an, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Việc đưa ra xét xử là nhằm đấu tranh loại bỏ loại tội phạm này.
Về nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2019/HSST ngày 22/10/2019, bị Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt chính và được cấp giấy chứng nhận ngày 13/11/2020. Kết quả xác minh điều kiện thi hành án dân sự thì bị cáo chưa thi hành án phí 200.000đ. Do đó, bị cáo chưa được xóa án tích, lần phạm tội này được xác định là tái phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn, hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (tái phạm).
Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trưởng thành, nhận thức đầy đủ hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hơn nữa để mang tính giáo dục và răn đe đối với người phạm tội, cần thiết xử hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thật nghiêm khắc để làm gương răn đe chung.
.Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ…” Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người lao động tự do, không có tài sản gì. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy loại Heroine còn lại sau giám định 0,106 gam, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy;
. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đình B phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
.Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy Heroine, Nguyễn Đình B khai mua tại một ngôi nhà có cửa sắt đóng kín nằm phía bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ theo hướng Thái Nguyên - Hà Nội thuộc tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. B không biết ngôi nhà này của ai, khi mua không nhìn thấy người bán, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Bể phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (tái phạm) và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Đình B 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/6/2022.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Đình B 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Đình B .
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M ghi hoàn trả 0,106 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói;
- 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 08/9/2022).
5. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đình B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo tại phiên toà. Báo cho biết bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an thành phố Phổ Yên; - VKS nhân dân thành phố Phổ yên; - Thi hành án thành phố Phổ Yên; - Sở tư phâp tỉnh Thái Nguyên; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Bị cáo; Trại tạm giam Công an tỉnh TN; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |