vanban.org

Bản án 117/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 27/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hà Văn H 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22-3-2022. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 BLHS; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Hợp - MBMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2022/HSST
Ngày: 27-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Triệu Văn Giản

2. Bà Vương Thị Minh Tân

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Hà Văn H, sinh năm 1999; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Lào Cai; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai; nơi ở: Số nhà 387 đường Văn Cao, xã Lộc An, thành phố N, tỉnh Nam Định, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 8/12; con ông: Hà Văn H (Đã chết) và bà: Trần Thị O, sinh năm 1979; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22-3-2022 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Nam Định; (Có mặt).

Người làm chứng:

1. Ông Phạm Minh Đ (Vắng mặt).

2. Anh Hoàng Quang Đ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 22-3-2022, tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà nghỉ Thanh Hằng ở số 6 đường Trần Nguyên Đán, phường Lộc Hòa, thành phố N phát hiện Hà Văn H đang ngồi trên xe máy biển kiểm soát 14K1- 083.40 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, Hợp lấy trong túi quần bên trái đang mặc giao nộp cho tổ công tác 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói giấy màu vàng trong có 03 viên nén màu xanh không xác định được hình dạng, trên bề mặt mỗi viên đều có in hình vương miện (niêm phong ký hiệu H1) và 02 gói nhỏ nilông màu trắng bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu H2), Hợp khai là 03 viên thuốc lắc và 02 gói ma túy Ketamine mục đích bán hộ ma túy cho khách để được hưởng tiền công 200.000 đồng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hà Văn H. Ngoài ra còn tạm giữ của Hợp 01 điện thoại động Iphone màu bạc đã cũ và xe máy biển kiểm soát 14K1-083.40.

Bản kết luận số 425/GĐKTHS ngày 23-3-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận:

- Mẫu 03 viên nén màu xanh không xác định được hình dạng trên bề mặt mỗi viên đều có in hình vương miện, thu giữ của Hà Văn H niêm phong ký hiệu ký hiệu H1 gửi giám định đều là ma túy, loại ma túy: MDMA, tổng khối lượng 1,042 gam.

- Mẫu 02 gói nhỏ nilông màu trắng trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, thu giữ của Hà Văn H niêm phong ký hiệu ký hiệu H2 gửi giám định đều là ma túy, loại ma túy: Ketamine, tổng khối lượng 0,860 gam.

Tại cơ quan điều tra, Hà Văn H khai nhận: Ngày 10-3-2022, Hợp đến thành phố N để tìm việc làm và quen Hùng ở quán Karaoke (Hợp không biết lai lịch, địa chỉ của Hùng), Hùng nói với Hợp “Anh hay có khách gọi mua ma túy, cần người đi bán ma túy cho khách em có làm không thì khi nào có khách anh sẽ gọi, xong việc anh trả cho vài trăm tiền công mà tiêu”. Hợp đồng ý, Hùng dặn Hợp mỗi lần Hùng gọi xong thì xóa số điện thoại của Hùng đi. Đến khoảng 07 giờ 40 phút ngày 22-3-2022, Hùng gọi điện thoại vào số thuê bao xxxxxxxxxx của Hợp bảo Hợp đi ra gốc cây ở gần khu vực Công ty Bao Bì, đường Văn Cao, xã Lộc An, thành phố N lấy ma túy để trong bao thuốc lá Thăng Long màu vàng mang đến khu vực nhà nghỉ Thanh Hằng, số 6 đường Trần Nguyên Đán, phường Lộc Hòa, thành phố N để chờ khách đến lấy ma túy thì thu tiền của khách 3.500.000 đồng và trả cho Hợp 200.000 đồng tiền công bán ma túy, Hợp đồng ý, điều khiển xe máy biển kiểm soát 14K1-08340 đi đến vị trí đã hẹn lấy ở gốc cây 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, Hợp mở ra xem thấy bên trong có gói giấy màu vàng trong có 03 viên thuốc lắc và 02 gói nhỏ ma túy, Hợp cất toàn bộ số ma túy trên vào trong túi quần bên trái và điều khiển xe máy đi đến khu vực trước cửa nhà nghỉ Thanh Hằng, số 6 đường Trần Nguyên Đán, phường Lộc Hòa, thành phố N dừng xe đợi khách để bán ma túy thì bị phát hiện, bắt giữ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã gửi công văn cho Tổng công ty Viễn thông Viettel - Chi nhánh tập đoàn công nghiệp - Viễn thông Quân đội đề nghị cung cấp danh sách dữ liệu các cuộc gọi đến số thuê bao xxxxxxxxxx (là số thuê bao Hợp sử dụng) trong khoảng thời gian từ 07giờ 30 phút đến 08 giờ ngày 22-3-2022 nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời.

Đối tượng tên Hùng theo Hợp khai là người nhờ Hợp đi bán ma túy để trả công do chưa đủ căn cứ kết luận, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 14K1-083.40 Hợp mượn của anh Mai Đình Đạt, sinh năm 1989, trú tại: Số nhà 387 Văn Cao, xã Lộc An, thành phố N. Anh Đạt không biết Hợp mượn xe để đi bán ma túy. Hiện chưa xác định rõ nguồn gốc chiếc xe máy này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Bản cáo trạng số 117/CT-VKSTPNĐ ngày 10-5-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Hà Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn H khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đánh giá mức độ hành vi phạm tội, nhân thân cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Hà Văn H có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó Kiểm sát viên đã giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ khoản 1 khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng;

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy và 01 vỏ bao thuốc lá Thắng Long đã thu giữ; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại động Iphone màu bạc đã cũ.

Bị cáo Hà Văn H không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Hà Văn H tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; Lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 08 giờ ngày 22-3-2022, tại khu vực trước cửa nhà nghỉ Thanh Hằng, số 6 đường Trần Nguyên Đán, phường Lộc Hòa, thành phố N, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép ma tuý mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo Hà Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội; Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ mục đích để để bán kiếm lời là 1,042 gam MDMA và 0,860 gam Ketamine, vì vậy tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS nên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là đúng pháp luật.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Hà Văn H đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nghiêm khắc cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện răn đe, cải tạo, giáo dục và góp phần phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên cũng cần xem xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nên quan điểm của Kiểm sát viên là tương đối phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Hà Văn H tàng trữ ma túy mục đích để bán kiếm lời nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma tuý thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước độc quyền quản lý, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và mẫu nước tiểu sẽ thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại động Iphone màu bạc đã cũ là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Hà Văn H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251 điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;

Xử phạt bị cáo Hà Văn H 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22-3-2022.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 BLHS;

Phạt tiền bị cáo Hà Văn H 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số vật chứng đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 425/GĐKTHS, và số 426/GĐKTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone màu bạc đã cũ (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố N).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Hà Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Hà Văn H có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ