vanban.org

Bản án 117/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 27/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trương Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: - Bị cáo Nguyễn Trương Thanh H 03(ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2022 Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trương Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2022/HSST
Ngày: 27 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Song Bình

Các hội thẩm nhân dân : 1/ Ông Nguyễn Tất Ái

2/ Bà Lê Thị Thu Yến

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Trần Vân Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Bạch – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 12 năm 2022, Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2022/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Trương Thanh H - sinh năm: 1998, tại tỉnh Bến Tre

- Hộ khẩu thường trú : Số A B, phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Chỗ ở: Số C, Quốc lộ D, khu phố E, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: nam

- Dân tộc: kinh. Quốc tịch: Việt Nam

- Con ông Nguyễn Thanh T và bà Trương Thị P

- Sống chung như vợ chồng với Nguyễn Ngọc Như H

- Có 01 con, sinh năm 2022.

- Tiền sự: không. Tiền án: không

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2022, chuyển tạm giam từ ngày 22/6/2022 đến nay (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Trần H- Công ty luật TNHH N H V - Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang (có mặt)

* Người làm chứng: Bùi Văn P, sinh năm 1957 (vắng mặt).

Trú tại: Số J khu phố K, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 17/6/2022 Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố M phối hợp với Công an phường G bắt quả tang Nguyễn Trương Thanh H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong ngăn tủ gỗ trong phòng ngủ tại nhà trọ của H tại địa chỉ số 205, Quốc lộ 50, khu phố 5, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon màu trắng hàn kín có một viền xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng được để trong một vỏ bao thuốc lá hiệu Marlboro được niêm phong trong bì thư màu vàng có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Trương Thanh H, Trần Phúc Thịnh, Bùi Văn P, Nguyễn Thanh Tùng và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN PHƯỜNG G- CÔNG AN THÀNH PHỐ M – TỈNH TIỀN GIANG.

Căn cứ Kết luận giám định số 67 ngày 19/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong một gói nylon màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 4,4488 gam.

Nguyễn Trương Thanh H khai nhận: H là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng giữa tháng 5 năm 2022, H đi ô tô khách đến khu vực Bến xe Miền Tây thuộc quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người nam không rõ họ tên địa chỉ hỏi H mua ma túy không, H đồng ý. Người này bán cho H 01 bịch ma túy để trong vỏ bao thuốc lá hiệu Marlboro giá 1.000.000 đồng. Sau đó H đem ma túy về nhà trọ cất giữ và sử dụng một phần, số ma túy còn lại H cất giữ vào ngăn tủ gỗ trong phòng ngủ của H. Đến ngày 17/6/2022, H bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật.

Đối với người nam bán ma túy cho H; do H không biết họ tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không triệu tập ghi lời khai được, hiện tiếp tục điều tra làm rõ nếu có căn cứ xử lý sau.

Bản cáo trạng số 91/CT-VKSMT ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Trương Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt, nêu lên các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo có công với cách mạng; căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo H từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị tịch thu 01 bìa thư được niêm phong có chứa ma túy tiêu hủy.

Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt, luật sư nêu lên các tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo có công với cách mạng, hoàn cảnh gia đình khó khăn có con nhỏ sinh năm 2022, bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự. Đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Xét thấy tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trương Thanh H đã khai nhận hành vi của mình đúng với nội dung bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó đủ cơ sở kết luận vào khoảng 18 giờ 50 phút ngày 17/6/2022 tại nhà trọ số 205, Quốc lộ 50, khu phố 5, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang bị cáo Nguyễn Trương Thanh H bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 4,4488 gam loại Methamphetamine, nên có đủ căn cứ kết luận bị cáo H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng ma túy rất khó từ bỏ, nếu sử dụng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người nghiện và ảnh hưởng xấu đến tình hình an toàn xã hội ở địa phương, về ý thức chủ quan bị cáo nhận thức được rằng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây tác hại xấu đến xã hội nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lổi cố ý trực tiếp, vì vậy cần xử lý bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tích chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm cho xã hội.

Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có con còn nhỏ; xét đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01(một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 67 ghi ngày 19/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký in họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thị Kiều Linh, trợ lý giám định Huỳnh Tấn Liễu, bên nhận Trần Phúc Thịnh và hình dấu tròn màu đỏ in chữ: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG bên trong có chứa chất ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí theo quy định của pháp luật

Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp pháp luật nên chấp nhận

Xét ý kiến và đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phù hợp pháp luật nên chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trương Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: - Bị cáo Nguyễn Trương Thanh H 03(ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2022

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01(một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 67 ghi ngày 19/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký in họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thị Kiều Linh, trợ lý giám định Huỳnh Tấn Liễu, bên nhận Trần Phúc Thịnh và hình dấu tròn màu đỏ in chữ: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG bên trong có chứa chất ma túy.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M và Chi cục thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang)

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 04/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

4. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ