vanban.org

Bản án 117/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 26/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’. Về mức phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T 05(năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Khấu trừ cho bị cáo 10(mười ngày) bị tạm giữ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2022/HSST
Ngày 26/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Minh

Bà Vũ Thị Lan Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 112/2022/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2022/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Xuân T - tên gọi khác: không; giới tính: Nam

Sinh ngày: 09/4/1969 tại huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Nơi cư trú và chỗ ở: Thôn H, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Bùi Xuân D, sinh năm 1937(đã chết) và bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1939, trú tại: phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; vợ là Nguyễn Thị Cẩm G, sinh năm 1980; có 02 con, con lớn Bùi Hoàng L, sinh năm 2002, con nhỏ Bùi Thị Anh T, sinh năm 2012; vợ và con đều đang trú tại thôn H, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai; bị cáo có nhân thân xấu: Bản án số 11/1988/HSST ngày 29/3/1988 Tòa án nhân dân thị xã Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng. Bản án số 26/1993/HSST ngày 25/6/1993 Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, 05 năm tù về tội “Giết người”, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 06 năm tù. Bản án số 19/1996/HSST ngày 29/5/1996 Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Đến nay bị cáo đã chấp hành xong các bản án và thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích;Tiền án: không;Tiền sự: không;

Bị cáo đang được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/6/2022 tại xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

NỘI DỤNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 14/6/2022 bị cáo Bùi Xuân T một mình điều khiển xe máy điện, không biển kiểm soát đi từ nơi ở tại số nhà 011, ngõ Phạm Văn Xảo, thôn Hồng Giang, xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đến khu vực đường An Dương Vương thuộc tổ 30, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai mua ma túy Methamphetamine về để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, bị cáo nhìn thấy một người nam giới đang dừng đỗ xe máy ở ven đường. Bị cáo đi đến vị trí của người nam giới này và mua được 01(một) túi nilon màu trắng chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng là ma túy Methamphetamine với giá 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng). Bị cáo cất giấu số ma túy vừa mua được vào trong hộc để đồ bên phải của xe máy điện rồi đi về nhà. Khi về đến nhà bị cáo lấy túi ma túy mang vào phòng khách rồi đổ toàn bộ số ma túy vừa mua được vào trong chiếc cóong thủy tinh của bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Bị cáo sử dụng một phần ma túy với hình thức hít, một phần ma túy còn lại vẫn còn trong cóong thủy tinh, bị cáo cất giấu bộ sử dụng ma túy trên vào trong ngăn tủ phòng khách. Khoảng 23 giờ 20 phút, ngày 17/6/2022 bị cáo một mình điều khiển xe máy điện đi từ nơi ở đến khu vực đường An Dương Vương thuộc tổ 30, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai mua ma túy Methamphetamine về để sử dụng. Khi đến nơi, bị cáo nhìn thấy một người nam giới mà bị cáo đã mua ma túy trước đó đang dừng đỗ xe máy ở ven đường. Bị cáo đi đến vị trí người nam giới đang đứng rồi mua được 01(một) túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng là ma túy Methamphetamine với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Sau đó, bị cáo cất số ma túy vào hộc để đồ bên phải của xe máy điện rồi điều khiển xe đi về nhà. Đi được khoảng 30mét thì bị cáo dừng xe lại. Khoảng 00 giờ 10 phút, ngày 18/6/2022, khi bị cáo đang dừng đỗ xe máy điện ở ven đường An Dương Vương thuộc tổ 30, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai thì bị Tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Lào Cai phối hợp với Công an phường Cốc Lếu phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng. Quá trình kiểm tra, bị cáo tự giác lấy từ trong hộc để đồ bên phải của xe máy điện ra giao nộp cho tổ công tác 01(một) túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng. Bị cáo khai nhận đây là ma túy Methamphetamine của bị cáo, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, còn tạm giữ của bị cáo 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, số IMEI: 352068063927215 đã qua sử dụng; 01(một) xe máy điện không có biển kiểm soát (xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong).

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo tại số nhà 011, ngõ Phạm Văn Xảo, thôn Hồng Giang, xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Quá trình khám xét, thu giữ 01(một) chai nhựa có nắp được đục 02(hai) lỗ gắn 01(một) cóong thủy tinh và 01(một) ống hút bằng nhựa, trên đầu của chiếc cóong có chứa chất rắn, màu trắng đục. Bị cáo khai nhận đây là ma túy Methamphetamine của bị cáo, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập ngày 20/6/2022 xác định niêm phong còn nguyên vẹn, đúng quy định:

- Bì niêm phong thứ nhất: Bên trong có 01(một) túi nilon màu trắng, bên trong túi có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng. Tổng khối lượng của các hạt tinh thể rắn, màu trắng trong túi nilon này là 0,23(Không phẩy hai mươi ba) gam, ký hiệu mẫu M1. Tiến hành đồng nhất mẫu sau đó trích 0,05(Không phẩy không năm) gam từ 0,23(Không phẩy hai mươi ba) gam tinh thể rắn, màu trắng. Còn lại sau trích mẫu 0,18(Không phẩy mười tám) gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.

- Bì niêm phong thứ hai: bên trong có 01(một) cóong bằng thủy tinh, bên trong cóong có chứa chất rắn, màu trắng đục. Tổng khối lượng của cóong và chất rắn, màu trắng đục trong cóóng là: 6,26 (Sáu phẩy hai mươi sáu) gam, ký hiệu mẫu M2. (khối lượng của chất rắn, màu trắng đục bên trong cóong là: 0,23 (Không phẩy hai mươi ba) gam. Giữ lại toàn bộ chất rắn, màu trắng đục trong cóong để tiến hành giám định.

Tại bản kết luận giám định số 160/KL-GĐMT ngày 23/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:

Mẫu M1: 0,23 (Không phẩy hai mươi ba) gam các hạt tinh thể rắn, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Methamphetamine.

Mẫu M2: 0,23 (Không phẩy hai mươi ba) gam chất rắn, màu trắng đục bên trong cóong bằng thủy tinh gửi giám định là loại chất ma túy Methamphetamine.

Cáo trạng số 102/CT- VKS ngày 30/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Bùi Xuân T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Bùi Xuân T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận tội, lời nhận tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở ngày 14/6/2022 bị cáo Bùi Xuân T đã mua 0,23 (Không phẩy hai mươi ba) gam ma túy Methamphetamine với giá 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) và ngày 17/6/2022 bị cáo tiếp tục mua 0,23(Không phẩy hai mươi ba) gam ma túy Methamphetamine với giá 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) của một người nam giới không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực đường An Dương Vương thuộc tổ 30, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai mục đích để sử dụng cho bản thân, nên bị cáo Bùi Xuân T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 0,46( Không phẩy bốn mươi sáu) gam ma túy Methamphetamine bị thu giữ. Vì vậy, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “ Phạm tội 02 lần trở lên”. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 0,18(Không phẩy mười tám) gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn; 01(một) cóong bằng thủy tinh được niêm phong bằng bì thư in sẵn; 01(một) chai nhựa có nắp được đục 02(hai) lỗ gắn 01( một) ống hút bằng nhựa.

Tịch thu của bị cáo 01(một) xe máy điện, không có biển kiểm soát để nộp vào ngân sách nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ của bị cáo 01 một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số IMEI: 352068063927215, đã qua sử dụng để đảm bảo công tác thi hành án

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Do nghiện chất ma túy, vào ngày 14/6/2022 bị cáo đã mua 0,23(Không phẩy hai mươi ba) gam ma túy Methamphetamine với giá 300.000đ( Ba trăm nghìn đồng) của một người nam giới không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực đường An Dương Vương thuộc tổ 30, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Bị cáo lấy số ma túy mua được cho vào trong chiếc coóng thủy tinh của bộ sử dụng ma túy. Bị cáo sử dụng một phần ma túy với hình thức hít một phần ma túy còn lại vẫn còn trong coóng bị cáo cất giấu vào ngăn tủ phòng khách tại nơi ở của bị cáo tại thôn Hồng Giang, xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai. Đến ngày 17/6/2022 bị cáo Bùi Xuân T tiếp tục mua 0,23(Không phẩy hai mươi ba) gam ma túy Methamphetamine với giá 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) của một người nam giới không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực đường An Dương Vương thuộc tổ 30, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng khi khám xét nơi ở của bị cáo.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy. Nhưng do nghiện ma túy nên ngày 14/6/2022 bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,23(Không phẩy hai mươi ba) gam ma túy Methamphetamine và ngày17/6/2022 bị cáo tiếp tục đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,23(Không phẩy hai mươi ba) gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy bị thu giữ là 0,46(Không phẩy bốn mươi sáu) gam Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân sấu: Bản án số 11/1988/HSST ngày 29/3/1988 Tòa án nhân dân thị xã Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 09 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng. Bản án số 26/1993/HSST ngày 25/6/1993 Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 01năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, 05 năm tù về tội “Giết người”, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 06 năm tù. Bản án số 19/1996/HSST ngày 29/5/1996 Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trốn khỏi nơi giam” mặc dù đến nay đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội, vì vậy phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời lấy đó làm bài học cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi bị bắt, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo có bố, mẹ được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Nhất, hạng Nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự . Vì vậy, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy điều kiện hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có khả năng để thi hành án nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền với đối bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Số vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định là 0,18 (Không phẩy mười tám) gam Methamphetamine; 01(một)cóong bằng thủy tinh; 01(một) xe máy điện không có biển kiểm soát(xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong); 01(một) chai nhựa có nắp được đục 02 (hai) lỗ gắn 01 (một) ống hút bằng nhựa. Đây là chất nhà nước cấm lưu hành, là vật không có giá trị sử dụng, là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ và nộp vào ngân sách Nhà nước là phù hợp với a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số IMEI: 352068063927215 đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí nên cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Do bị cáo bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.

2. Về mức phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T 05(năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Khấu trừ cho bị cáo 10(mười ngày) bị tạm giữ.

3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 0,18(Không phẩy mười tám) gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn.Trên một mặt bì thư này có ghi:“Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Bùi Xuân T ngày 18/6/2022 tại tổ 30, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”; 01(một) cóong bằng thủy tinh được niêm phong bằng bì thư in sẵn. Trên một mặt bì thư niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau giám định thu giữ khi khám xét nơi ở của Bùi Xuân T ngày 18/6/2022 tại số nhà 011, ngõ Phạm Ngũ Lão, thôn Hồng Giang, xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”; 01(một) chai nhựa có nắp được đục 02(hai) lỗ gắn 01(một) ống hút bằng nhựa.

Tịch thu của bị cáo 01(một) xe máy điện, không có biển kiểm soát.Tại thời điểm giao, nhận xe đã qua sử dụng nhiều vết trầy xước, xe không có gương, không kiểm tra chất lượng máy bên trong để nộp vào ngân sách nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ của bị cáo 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số IMEI: 352068063927215 đã qua sử dụng(Tại thời điểm giao nhận vật chứng điện thoại không khởi động được nguồn, không kiểm tra thực tế số IMEI) để đảm bảo công tác thi hành án.(Vật chứng được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/9/2022).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Xuân T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ