- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2022/HS - ST Ngày 17 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Quang Phong
Ông Lưu Xuân Giới
- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tham gia phiên tòa: bà Lương Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2022/TLST - HS ngày 20 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2022/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Thị V, sinh ngày 25/7/1998, tại huyện MA, tỉnh ĐB; nơi thường trú: bản PB, xã NT, thành phố ĐBP, tỉnh ĐB; nơi ở hiện tại : khu dân cư MĐ, phường HT, thị xã KM, tỉnh HD; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn K và bà Lò Thị P; chồng: Lường Văn B (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 26/6/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Trần Văn K; sinh năm 1994; địa chỉ: khu TB, phường TT, thị xã KM, tỉnh HD. Vắng mặt
+ Anh Nguyễn Văn H; sinh năm 1987; địa chỉ: khu dân cư DK, phường LX, thị xã KM, tỉnh HD. Vắng mặt
* Người chứng kiến:
+ Bà Phùng Thị Ph; sinh năm 1960; nơi cư trú: khu VT 2, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt
+ Ông Trần Văn Kh; sinh năm 1958; nơi cư trú: khu VT 2, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/6/2022, tại tổ 8, khu VT 2, phường MK, thị xã ĐT, Công an thị xã ĐT bắt quả tang Lò Thị V có hành vi cất giấu trong túi xách đang đen trên người 01 (một) túi nilon kích thước (7,2x4,3)cm, bên trong có một gói giấy màu nâu chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ của V 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha biển kiểm soát 34B2 – 1928, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A31 và 01 (một) túi xách.
Tại bản Kết luận giám định số 1080/KL-KTHS, ngày 04/7/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lò Thị V gửi giám định là ma túy, loại Heroin, khối lượng: 0,272g (không phẩy hai bảy hai gam).
(Heroin nằm trong Danh mục IA, STT:09; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lò Thị V khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Về nguồn gốc ma túy, V khai: khoảng 15 giờ ngày 26/6/2022, tại khu vực cầu Hoàng Thạch thuộc thị xã KM, tỉnh HD V gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 (một) túi ma túy loại Heroin, với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), mục đích để sử dụng. Sau đó, V cất giấu túi ma túy trong túi xách đang đeo trên người, rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34B2 – 1928 đi chơi. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đi đến đoạn đường thuộc tổ 8, khu VT 2, phường MK, thị xã ĐT thì bị Công an kiểm tra, phát hiện thu giữ vật chứng.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 34B2 – 1928, quá trình điều tra Lò Thị V khai, vào năm 2021 có một người bạn không rõ lai lịch địa chỉ vay tiền của V và để lại cho V chiếc xe mô tô này. Qua kiểm tra, xác minh đã làm rõ xe mô tô là vật chứng của vụ trộm cắp tài sản xảy ra năm 2021 tại thị xã KM, tỉnh HD. Ngày 11/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT đã chuyển nguồn tin về tội phạm và vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã KM, tỉnh HD giải quyết theo thẩm quyền.
Người chứng kiến bà Phùng Thị Ph và ông Trần Văn Kh vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/6/2022, ông bà được cơ quan Công an mời đến tổ 8, khu VT 2, phường MK, thị xã ĐT, để chứng kiến lực lượng Công an tiến hành kiểm tra một phụ nữ có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Người phụ nữ khai tên Lò Thị V, thu giữ bên trong túi xách V đang đeo phía trước trên người 01 (một) túi nilon, bên trong túi nilon có chứa 01 gói giấy màu nâu, bên trong gói giấy màu nâu có chứa chất bột màu trắng. Người phụ nữ khai chất bột màu trắng là chất ma túy Heroin, mua về mục đích để sử dụng. Sau đó cơ quan Công an lập biên bản thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số: 119/CT- VKS - ĐT ngày 17 - 10 - 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố bị cáo Lò Thị V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 26/6/2022
- Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu cho tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1080/KTHS ngày 04/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và 01 (một) túi xách;
+ Trả lại cho bị cáo Lò Thị V 01 (một) điện thoại Samsung A31
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã ĐT, lập hồi 17 giờ 30 phút ngày 26/6/2022 tại tổ 8, khu VT 2, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh kèm theo biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 26/6/2022, tại tổ 8, khu VT 2, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, Lò Thị V có hành vi tàng trữ trái phép 0,272 gam (không phẩy hai bảy hai gam) chất ma túy, loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng, thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự;
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ và 01 (một) túi xách không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) chiếc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho V, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ để xử lý.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra còn làm rõ Lò Thị V sinh cháu Lường Thị Minh H vào ngày 03/10/2014, V khai cháu Huyền là con chung của V và anh Lường Văn B. Trước đó, tại thành phố ĐB, tỉnh ĐB, khi V chưa đủ 16 tuổi thì V và anh B đã nhiều lần quan hệ tình dục với nhau. Do có dấu hiệu của vụ việc “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, nên ngày 11/10/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT đã chuyển nguồn tin tội phạm đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố ĐB, tỉnh ĐB giải quyết theo thẩm quyền.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Thị V 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 26/6/2022.
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu cho tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1080/KTHS ngày 04/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và 01 (một) túi xách;
+ Trả lại cho bị cáo Lò Thị V 01 (một) điện thoại Samsung A31
(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 10 ngày 20 tháng 10 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lò Thị V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
(đã ký)
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;
- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS thị xã ĐT;
Trần Thị Như Quỳnh
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh;
- Lưu: hồ sơ, VP.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;
- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS thị xã ĐT;
Trần Thị Như Quỳnh
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh;
- Lưu: hồ sơ, VP.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;
- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS thị xã ĐT;
Trần Thị Như Quỳnh
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh;
- Lưu: hồ sơ, VP.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT;
- Cơ quan THAHS Công an thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS thị xã ĐT;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
Trần Thị Như Quỳnh
- Nhà tạm giữ Công an thị xã ĐT;
- Lưu hồ sơ, VP./.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân Thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Công an Thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS Thị xã ĐT;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
Trần Thị Như Quỳnh
- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh
- Lưu hồ sơ, VP./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân Thị xã ĐT; - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh; - Công an Thị xã ĐT; - Chi cục THA DS Thị xã ĐT; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - TTG Công an tỉnh Quảng Ninh - Lưu hồ sơ, VP./. HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Hữu Trung Lưu Xuân Giới | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Như Quỳnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Như Quỳnh |