vanban.org

Bản án 117/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 08/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Lê Quang P 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 29/6/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2022/HS-ST
Ngày: 08/11/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG – TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Kim Chi

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Trung Tuyến

2. Bà Nông Thị Duyên

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Mã Thị Thu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 11 năm 2022, Tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 98/2022/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Quang P (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 19 tháng 12 năm 1990 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm Khuổi Luông, xã C, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Nùng; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Chức vụ Đảng, chính quyền đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Lê Quang M (đã chết); Con bà: Hoàng Thị E; Vợ: Hoàng Thị B (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2014; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 02 tiền án: Ngày 26/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Ngày 25/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Trà Lĩnh (nay là huyện Trùng Khánh) tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 29/6/2022 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Thu Trang, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Cao Bằng; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị D - sinh năm 1988;

Địa chỉ: Xóm Phia Mạ, xã N, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 15 giờ 10 phút ngày 29/6/2022 tại khu vực đường bờ kè thuộc tổ 06, phường N, thành phố Cao Bằng, tổ công tác Công an phường Ngọc Xuân phát hiện và bắt quả tang Lê Quang P (sinh ngày 19/12/1990 (trú tại: Xóm Khuổi Luông, xã C, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói giấy ăn bên trong chứa 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột có khối lượng 0,16g; 01 xe máy nhãn hiệu Exciter màu xanh xám đen, biển kiểm soát 11B1 – 275.31; 01 gói Nilon đỏ bên trong chứa 04 hòn đá nhỏ có màu ánh kim.

Ngày 30/6/2022, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 163 đối với vật chứng của vụ án. Tại kết luận giám định số 176/GĐMT ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: "Chất bột màu trắng bên trong P bì niêm P gửi giám định là ma túy, loại Heroine".

Quá trình điều tra đủ căn cứ để xác định: Khoảng 12 giờ ngày 29/6/2022, Lê Quang P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển kiểm soát 11B1-275.31 đi từ huyện T, tỉnh Cao Bằng đến khu vực Bến xe khách cũ thành phố Cao Bằng thuộc tổ 02, phường S, thành phố Cao Bằng để bán ống xả xe máy. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi P đang ngồi uống nước thì có 01 người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, dáng giống người nghiện, đến hỏi P có mua ma túy không thì P đồng ý. P đưa cho người đàn ông này số tiền 200.000đ, người này cầm tiền rồi hẹn P đến đầu cầu gia cung thuộc tổ 06, phường N đợi. P đi đến chỗ hẹn chờ khoảng 30 phút thì người đàn ông đó đến và đưa cho P 01 gói giấy ăn bên trong chứa 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa ma túy. P cất gói ma túy vừa mua được vào túi quần đằng trước bên trái P đang mặc và đi xuống khu vực bờ sông để tìm chỗ sử dụng thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ toàn bộ số vật chứng nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 101/CTr - VKSTP, ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Lê Quang P về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Quang P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt và tại Cơ quan điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị D xác nhận: 01 xe máy nhãn hiệu Exciter màu xanh xám đen, Biển kiểm soát: 11B1-275.31; 01 gói Nilon đỏ bên trong chứa 04 hòn đá nhỏ có màu ánh kim là tài sản của bà, bà được cho e trai của bà là Lê Quang P mượn xe để đi lao động kiếm tiền, việc bị cáo lấy xe đi mua ma túy bà không biết và không cho phép, nay Công an đã xử lý trả lại tài sản cho bà thì bà không có ý kiến hay yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Quang P. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Quang P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị xử phạt bị cáo Lê Quang P từ 05 (năm) - 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi tang vật cân vụ Lê Quang P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 29/6/2022, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng. Kèm kết luận giám định ma túy số 176/KL-KTHS, ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng vì đây là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

Về án phí, đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo bà Nông Thị Thu Trang trình bày bản bào chữa, nhất trí với đại biện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt. Tuy nhiên, do bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã tự nguyện khai báo thành khẩn nên đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của kiểm sát viên về tội danh và hình phạt. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Heroine của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua đó đã chứng minh được bị cáo Lê Quang P là người nghiện ma túy, hồi 15 giờ 10 phút ngày 29/6/2022 tại khu vực tổ 06, phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng phát hiện và bắt quả tang Lê Quang P có hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại kết luận giám định số 176/GĐMT ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: "Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine". Hành vi của bị cáo Lê Quang P đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự

"Điều 249 .Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:

1.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

o) Tái phạm nguy hiểm

..."

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Lê Quang P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Heroine là dạng ma túy Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt và sử dụng trái phép nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý nhằm mục đích phục vụ bản thân, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Quang P có tình tiết định khung tăng nặng tái phạm nguy hiểm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lê Quang P là người nghiện ma túy, đã từng bị xử phạt tù, thuộc trường hợp tái phạm, chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương bị cáo không tu chí làm ăn, không đấu tranh tinh thần trước lời mời dụ dỗ từ các đối tượng bán ma túy mà tiếp tục mua ma túy về để tàng trữ sử dụng cho bản thân với khối lượng là 0,16 gam Heroine. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, ngăn ngừa bị cáo tiếp tục phạm tội, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, trên mức khởi điểm thì mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã gây ra, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian tiếp tục suy nghĩ, cải tạo bản thân, từ đó, nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm ma túy nói riêng.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi tang vật cân vụ Lê Quang P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 29/6/2022, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng kèm kết luận giám định ma túy số 176/KL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Đây là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lê Quang P, do P không biết họ tên, địa chỉ và việc mua bán không có ai biết và chứng kiến. Do vậy, cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Exciter màu xanh xám đen, biển kiểm soát: 11B1 - 275.31; 01 gói Nilon đỏ bên trong chứa 04 hòn đá nhỏ có màu ánh kim, Công an thành phố Cao Bằng đã làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Quang P.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Lê Quang P 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 29/6/2022.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi tang vật cân vụ Lê Quang P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 29/6/2022, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng kèm kết luận giám định ma túy số 176/KL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng.

Vật chứng trên hiện đang được lưu tại kho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số 05 ngày 07/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng.

Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Lê Quang P phải chịu nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.

Về thực hiện quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 08/11/2022. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ