- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đ…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Trần Thanh P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng - Tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2022/HS-ST Ngày: 22 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông TRẦN VĂN CHINH.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà VÕ KIM HƯỜNG;
2. Bà NGUYỄN THỊ THANH TRANG.
- Thư ký phiên tòa: Bà NGUYỄN KIỀU OANH, Thư ký Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông PHAN MINH VƯƠNG - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 22 tháng 6 năm 2022, tại phòng xử hình sự Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2022/QĐXXST – HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
TRẦN THANH P; giới tính: Nam; sinh năm: 1991; tại: Bến Tre; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; thường trú: Ấp 3, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre; chỗ ở: Ấp 2, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 6/12; con ông: Nguyễn Văn D, sinh năm 1960 và bà Trần Thị Đ (đã chết); Anh, chị, em ruột: 04 (lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 2006); vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị bắt tạm giữ ngày 03/11/2021, bị tạm giam từ ngày 06/11/2021 – có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh ngày 16/4/2003; địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp – vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm: 1983; địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh P và Nguyễn Thị Mỹ T (sinh ngày 16/4/2003) có quan hệ tình cảm với nhau từ cuối năm 2017 đến nay nhưng gia đình T ngăn cấm. Ngày 26/8/2018 P và T bàn bạc rủ nhau bỏ về nhà chị của P ở Bình Dương một thời gian để gây áp lực cho gia đình T, P và T còn rủ thêm Nguyễn Thị Mỹ Tn (chị họ T), Lê Văn H (bạn trai của Tn), Vi Văn Hg (bạn của H), Trần Thị Huyền T (em gái P), tất cả đều làm chung tại cơ sở bánh trung thu ở Long An đi cùng. Cả nhóm hẹn ngày 27/8/2018 cùng nhau đi, riêng P khi làm xong việc tại cơ sở bánh trung thu sẽ đi sau. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 27/8/2018, T, Tn, Hg, H và T đón xe đi từ xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An đi đến Bình Dương, khi đến phường S, quận T một số người bị say xe nên cả nhóm vào khách sạn H, địa chỉ số 9-11 đường C, phường S, quận T, thuê 02 phòng để nghỉ ngơi và đợi P làm việc xong sẽ ra đi chung. T, H, T thuê phòng 203; Tn và Hg thuê phòng 206. Sau khi thuê phòng T điện thoại cung cấp địa chỉ khách sạn cho P biết.
Đến khoảng 21 giờ ngày 27/8/2018 Phong đến khách sạn H và vào phòng 203 chơi. Đến 22 giờ cùng ngày, P rủ T thuê phòng riêng và T đồng ý. P xuống quầy tiếp tân thuê thêm phòng 208 rồi cùng T vô phòng, khóa cửa lại. P và T cùng nằm chung trên giường, sau đó cả hai quan hệ tình dục với nhau, P không sử dụng bao cao su và xuất tinh vào bên trong âm đạo của T. Đến 09 giờ ngày 28/8/2018, cả nhóm trả phòng khách sạn tiếp tục đi đến nhà chị của P ở Bình Dương, trên đường đi, P mua một viên thuốc ngừa thai cho T uống. Đến nơi, do chị của P không cho ở lại nên cả nhóm thuê phòng khách sạn ở và đi chơi đến khoảng 22 giờ ngày 29/8/2018 thì cả nhóm quay về cơ sở bánh trung thu để tiếp tục làm việc. Sau khi về nhà, T nói sự việc đi chơi và có quan hệ tình dục với P cho mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Ngọc M biết. Ngày 30/8/2018 bà Mai đưa T đến Cơ quan Công an trình báo.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thanh P đã thừa nhận việc thực hiện hành vi giao cấu với Thường như trên.
Ngoài ra, Trần Thanh P khai nhận còn giao cấu với T 02 lần khác, tất cả các lần Thường đều tự nguyện, cụ thể:
- Lần 1 vào khoảng giữa tháng 6/2018 khi gia đình T đi vắng, chỉ có T ở nhà, P thực hiện giao cấu với Thường trên gác tại phòng trọ nơi ở của gia đình T, địa chỉ: G6/5A, tổ 6, ấp 7, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Lần 2 vào ngày 28/8/2018, cả nhóm đi đến nhà chị của P ở Bình Dương, do chị của P không cho ở lại nên cả nhóm thuê phòng khách sạn ở Bình Dương, P và T ở phòng riêng và quan hệ tình dục với nhau, P không nhớ địa chỉ khách sạn.
Bản Kết luận giám định pháp y về tình dục đối với Nguyễn Thị Mỹ T số 126/TD.18 ngày 20/9/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Màng trinh không rách, không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo và vùng hậu môn, chỉ có tế bào người nam trong âm đạo đủ cơ sở đối chiếu với mẫu AND của đối tượng nam.
Bản Kết luận giám định pháp y về AND số 1.246A-2018/AND ngày 12/11/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận AND của Trần Thanh P có hiện diện trong mẫu phết dịch âm đạo của Nguyễn Thị Mỹ T.
Vật chứng thu giữ:
- 01 tấm ga giường bằng vải, màu xanh – trắng, có in chữ GOOD, kích thước 1,6m x 2m của phòng 208 khách sạn Hoàng Nguyên.
- 01 quần dài màu đen, 01 áo thun màu cam, 01 quần lót màu xanh nhạt là quần áo của Thường.
- 01 quần sọt màu café sữa, 01 quần lót màu đen, 01 áo thun dài tay màu đỏ, tay áo màu vàng, có in chữ Công ty thực phẩm Đ là quần áo của P.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen xám, số imei: 358868084676301 của P.
Vật chứng nêu trên đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 316 ngày 09/9/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc M (mẹ ruột của T) yêu cầu số tiền 20.000.000 đồng, ngày 01/11/2018, P đã thực hiện xong việc bồi thường, bị hại và gia đình không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh P đã thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận như bản cáo trạng đã nêu.
Tại Bản cáo trạng số 39/CT-VKSQ.TP ngày 13 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thanh P về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cũng như xem xét các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thanh P về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh P mức án từ 03 năm đến 04 năm tù giam.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc M (mẹ ruột của T) yêu cầu số tiền 20.000.000 đồng, ngày 01/11/2018, Trần Thanh P đã thực hiện xong việc bồi thường, bị hại và gia đình không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Bị cáo Trần Thanh P nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xét xử cho bị cáo một mức án nhẹ để có cơ hội sửa sai và làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Khoảng giữa tháng 6/2018, ngày 27/8/2018 và ngày 28/8/2018 bị cáo đã giao cấu với bị hại, mặc dù được sự nhất trí của bị hại, nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi giao cấu bị hại đang trong độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe sinh sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nên phải xử lý nghiêm minh tương xứng với tính chất mức độ hành vi và hậu quả bị cáo gây ra mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên xét bị cáo là người có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường 20.000.000 đồng cho bị hại để khắc phục hậu quả và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, xuất phát từ tình cảm giữa bị cáo và bị hại là người yêu của nhau, những lần bị cáo và bị hại quan hệ tình dục đều được sự đồng ý của bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc M (mẹ ruột của T) yêu cầu số tiền 20.000.000 đồng, ngày 01/11/2018, Trần Thanh P đã thực hiện xong việc bồi thường, bị hại và gia đình không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Về xử lý vật chứng:
- 01 tấm ga giường bằng vải, màu xanh – trắng, có in chữ GOOD, kích thước 1,6m x 2m; 01 quần dài màu đen; 01 áo thun màu cam; 01 quần lót màu xanh nhạt; 01 quần sọt màu café sữa; 01 quần lót màu đen; 01 áo thun dài tay màu đỏ, tay áo màu vàng, có in chữ Công ty thực phẩm Đ, xét đã cũ, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen xám, số imei: 358868084676301 của P, điện thoại dùng để liên lạc thực hiện việc phạm tội, xét nên tịch thu sung quỹ.
Vật chứng nêu trên đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 316 ngày 09/9/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Trần Thanh P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trần Thanh P 04 (bốn) năm tù giam.
Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 11 năm 2021.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 tấm ga giường bằng vải, màu xanh – trắng, có in chữ GOOD, kích thước 1,6m x 2m; 01 quần dài màu đen; 01 áo thun màu cam; 01 quần lót màu xanh nhạt; 01 quần sọt màu café sữa; 01 quần lót màu đen; 01 áo thun dài tay màu đỏ, tay áo màu vàng, có in chữ Công ty thực phẩm Đ.
- Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen xám, số imei: 358868084676301.
Các vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 316 ngày 09/9/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Công an quận T; - VKSND quận T; - Chi cục THADS quận T; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - Phòng PC27 CATP.HCM; - Lưu hồ sơ vụ án. hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017). GOOD, kích thước 1,6m x 2m; 01 quần dài màu đen; 01 áo thun màu cam; 01 quần lót màu xanh nhạt; 01 quần sọt màu café sữa; 01 quần lót màu đen; 01 áo thun dài tay màu đỏ, tay áo màu vàng, có in chữ Công ty thực phẩm Đồng Khánh. imei: 358868084676301. ngày 09/9/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T. [3] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong. năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017). cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Văn Chinh [2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng - Tịch thu tiêu hủy: 01 tấm ga giường bằng vải, màu xanh – trắng, có in chữ - Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen xám, số Các vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 316 [4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự [5] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Chinh |