- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2022/HS-ST Ngày 16 – 6 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lại Hữu Tâm
2. Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc T – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Minh T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 405/15 đường T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: số 278 đường H, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Bá T1 và bà Lư Muội M; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/3/2022. (có mặt)
* Bị hại:
Người đại diện hợp pháp của ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1945 (đã chết).
1/ Bà Huỳnh Thị Thúy H, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Ấp 5, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
2/ Bà Huỳnh Thị Hồng Đ, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Ấp 5, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
3/ Bà Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Số 30/3B đường T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
4/ Bà Huỳnh Thị Thanh M, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Ấp 5, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
5/ Ông Huỳnh Tấn L, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Ấp 5, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà H, bà Đ, bà T và bà M: Ông Huỳnh Tấn L, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Ấp 5, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Lê Bá T1, sinh năm 1963; Nơi cư trú: số 278 đường H, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ ngày 3/12/2021 bị cáo Lê Minh T điều khiển xe ô tô biển số 51G-684.07 từ huyện Đ, tỉnh L để đi về nhà tại quận T. Đến 4 giờ 30 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe ô tô lưu thông đến đoạn đường T, thuộc tổ 17, ấp 5, xã A, huyện B thì phát hiện một xe mô tô (không rõ biển số) lưu thông chiều ngược lại (cách xe T khoảng 3m-5m), bất ngờ xe này chuyển hướng sang trái ngay trước đầu xe của T và đèn xe mô tô này chiếu thẳng vào mặt T làm T chói mắt. T tiếp tục chạy về phía trước thì va chạm với xe đạp do ông Huỳnh Văn T điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều. Tuy nhiên, T không phát hiện sự việc va chạm vào xe đạp của ông T và nghĩ là dàn cảnh cướp tài sản nên tiếp tục chạy về nhà thông báo cho gia đình biết. Đến 08 giờ sáng ngày 3/12/2021 T quay lại hiện trường. Hậu quả vụ tai nạn làm cho ông T té xuống đường, bị thương nặng và đã tử vong trên đường đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện 175. Nhận được tin báo Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để điều tra xác định nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông. Riêng đối với Lê Minh T đã đến Cơ quan Công an trình diện và khai báo về vụ tai nạn trên.
Ngày 7/01/2022 Trung tâm Pháp y TP. Hồ Chí Minh có Kết luận số 2144/TT.22 xác định nguyên nhân tử vong của nạn nhân Huỳnh Văn T là do: Chấn thương sọ não.
Ngày 11/01/2022 Phân viện Khoa học hình sự tại TP.Hồ Chí Minh có kết luận giám định số: 127/C09B đối với xe ô tô biển số 51G-684.07 và xe đạp sơn màu xanh:
“1. Dấu vết trượt xước, nứt vỡ các chi tiết phía trước bên phải xe ô tô biển số 51G-684.07 (cản trước, ốp đầu xe, cụm đèn phía trước) có chiều từ trước về sau phù hợp dấu vết trượt xước, cong biến dạng các chi tiết phía sau bên trái xe đạp (bánh sau, cung sau chắn bùn bánh sau, yên sau) có chiều từ sau về trước, từ trái sang phải.
2. Các dấu vết trên xe đạp còn lại được ghi nhận trong biên bản khám phương tiện phù hợp khi xe đạp văng, trượt trên đường tạo ra.
3. Phía trước bên phải xe ô tô biển số 51G-684.07 và phía sau bên trái xe đạp là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi xảy ra tai nạn. Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường thuộc phần đường bên phải đường Thới Hòa theo hướng từ đường Quách Điêu đi Quốc lộ 1.
4. Khi va chạm, xe đạp đang chuyển động thẳng đứng trên đường Thới Hòa theo hướng từ đường Quách Điêu đi Quốc lộ 1, xe ô tô biển số 51G-684.07 chuyển động phía sau cùng chiều.
5. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 51G-684.07, xe đạp với phương tiện, vật cản khác khi xảy ra tai nạn.
6. Vết cày tại hiện trường ký hiệu số 3 và 4 có chiều hướng từ đường Quách Điêu đi Quốc lộ 1 phù hợp do xe đạp văng, trượt trên đường tạo ra. Không đủ cơ sở xác định chính xác do bộ phận nào của xe đạp tạo ra vết cày.
7. Không đủ cơ sở xác định xe ô tô biển số 51G-684.07 có va chạm với nạn nhân Huỳnh Văn T hay không”.
Ngày 03/03/2022 Phân viện Khoa học hình sự tại TP.Hồ Chí Minh có kết luận số 1194/KL-KTHS đối với xe ô tô biển số 51G-684.07: Tại thời điểm tham gia tai nạn giao thông, tình trạng kỹ thuật về hệ thống phanh, hệ thống lái, đèn chiếu sáng, gương chiếu hậu của xe ô tô biển số 51G-684.07 hoạt động bình thường, không bị hư hỏng.
Ngày 29/3/2022, Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh có công văn số 2736/SGTVT-SH trả lời kết quả xác minh: Ngày 7/3/2014 có cấp giấy phép lái xe số: 790149686422; seri: AD098015 hạng B2 cho Lê Minh T.
Quá trình điều tra xác định nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do Lê Minh T điều khiển xe ô tô biển số 51G-684.07 lưu thông thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ và không giữ khoảng cách an toàn vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ nên đã làm cho xe ô tô biển số 51G-684.07 va chạm vào xe đạp của ông T làm nạn nhân tử vong.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh, Lê Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, lời khai này phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả thực nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y, kết luận giám định dấu vết va chạm, lời khai của nhân chứng, camera thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 13/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Bị cáo đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án (có nêu rõ có thể xét xử bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017)). Bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo không tự bào chữa và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 và điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 200.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo và không có yêu cầu khác nên đề nghị không xem xét. Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Chánh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được, biên bản khám nghiệm hiện trường và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Ngày 03/12/2021 tại đường T, ấp 5, xã A, huyện B, TP. Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Minh T đã có lỗi khi điều khiển xe ô tô biển số 51G-684.07 lưu thông trên đường thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc và không giữ khoảng cách an toàn đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Đây là nguyên nhân làm cho xe ô tô biển số 51G-684.07 va chạm với xe đạp do ông Huỳnh Văn T điều khiển. Hậu quả vụ tai nạn làm cho ông Huỳnh Văn T tử vong.
Lời khai nhận tội của bị cáo trong trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, hình ảnh camera thu giữ, vật chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, các kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lê Minh T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa bị cáo trình bày không biết tai nạn xảy ra nên đã điều khiển xe về nhà, nhưng sau đó bị cáo quay lại hiện trường và trình báo sự việc với Công an khi biết mình gây ra tai nạn; bị cáo còn liên hệ với gia đình bị hại để bồi thường thiệt hại và được gia đình bị hại làm đơn bãi nại đối với bị cáo nên xét thấy không đủ căn cứ để xử lý bị cáo theo tình tiết định khung “bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại và được người đại diện của bị hại có đơn xin bãi nại đề nghị giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP nên áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng và người đại diện của bị hại không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Huỳnh Văn T điều khiển xe đạp lưu thông đúng phần đường quy định, không có lỗi.
Về vật chứng:
- 01 xe ô tô 5 chỗ biển số 51G-684.07 do ông Lê Bá T (là cha của bị can Lê Minh T1) đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh đã trao trả xe cho ông T1 nên không xem xét.
- 01 chiếc xe đạp kiểu nữ sơn màu xanh, đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh đã trao trả xe trên cho ông Huỳnh Tấn L (là con nạn nhân T) nên không xem xét.
- 01 dĩa DVD ghi âm ghi hình hỏi cung bị can Lê Minh T; 01 USB màu đen có chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông đường bộ. Xét thấy, cần tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.
- 01 giấy phép lái xe hạng B2 thu giữ của bị cáo: Trả lại cho bị cáo nhưng tạm thời lưu giữ trong hồ sơ vụ án cho đến khi bị cáo chấp hành xong bản án sẽ trả lại.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
* Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 16/6/2022. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo Luật Thi hành án hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần theo Luật Thi hành án hình sự trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
* Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Lưu kèm theo hồ sơ vụ án: 01 dĩa DVD ghi âm ghi hình hỏi cung bị can Lê Minh T; 01 USB màu đen có chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông đường bộ (vật chứng này đang lưu kèm hồ sơ vụ án)
- Trả lại cho bị cáo nhưng tạm thời lưu giữ trong hồ sơ vụ án cho đến khi bị cáo chấp hành xong bản án sẽ trả lại: 01 giấy phép lái xe hạng B2 (hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án).
* Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí: Bị cáo Lê Minh T chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
(Đã giải thích chế định án treo )
| Nơi nhận: - VKSND TP.HCM; - VKSND huyện Bình Chánh; - Bị cáo; đương sự; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam Chí Hòa; Trại giam T30; - Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Chánh; - UBND phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu: Vp, Hồ sơ vụ án (TP. Lâm). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký, đóng dấu) Vũ Thanh Lâm Vũ Thanh Lâm |