vanban.org

Bản án 117/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo Nguyễn Văn M và Trần Văn B kh…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 150/2021/HS-ST Tuyên án 28/12/2021
Phúc thẩm — đang xem Bản án 117/2022/HS-PT Tuyên án 18/08/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M và Trần Văn B phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số 117/2022/HS-PT
Ngày 18 - 8 - 2022
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hà.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hải và bà Nguyễn Thị Hải M.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 52/2022/TLPT-HS ngày 08 tháng 3 năm 2022 đối với các bị cáo Nguyễn Văn M và Trần Văn B bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc”; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 150/2021/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Văn M, tên gọi khác: Không; sinh ngày 24 tháng 3 năm 1987 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm 6, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; T giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn M N và bà Trần Thị P; có vợ là Nguyễn Thị T và có 04 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 12 tháng 7 năm 2021 đến ngày 21 tháng 7 năm 2021 được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Văn B, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10 tháng 02 năm 1974 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm 5, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh, T giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị N12; có vợ là Nguyễn Thị B và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 15 tháng 6 năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 62/2021/HSST ngày 15 ngày 6 năm 2021; bị cáo kháng cáo; ngày 19 tháng 10 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm, chấp nhận kháng cáo, xử phạt bị cáo 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 7 năm 2021 đến ngày 27 tháng 10 năm 2021 được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Danh T, Nguyễn Hữu C, Trần Văn M và Hoàng Ngọc T1 không có kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến tham gia phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án liên quan đến bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Trần Văn B được tóm tắt như sau:

Trong thời gian diễn ra giải đấu bóng đá Châu Âu Euro 2020, bị cáo Nguyễn Văn M cùng với Nguyễn Hữu C, Hoàng Ngọc T1, Nguyễn Danh T, Trần Văn M và Trần Văn B đã cùng nhau đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá thắng thua bằng tiền mặt. Hành vi cụ thể như sau:

- Vào lúc 02 giờ 00 phút ngày 15 tháng 6 năm 2021, Nguyễn Hữu C sử dụng điện thoại di động nhắn tin đến tài khoản Zalo của bị cáo Nguyễn Văn M để tham gia đánh bạc kèo “Tây Ban Nha chấp Thụy Điển 1,25 quả, tỉ lệ 1 ăn 1”. C đặt cược kèo Tây Ban Nha thắng với số tiền 20.000.000 đồng thì M đồng ý. Kết thúc trận đấu với tỉ số hòa 0 - 0, C thua số tiền 20.000.000 đồng.

- Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 18 tháng 6 năm 2021, C sử dụng điện thoại di động nhắn tin đến tài khoản Zalo của bị M để đánh bạc với kèo “Anh chấp Scotland 1,5 quả, tỉ lệ 1 ăn 1”. C đặt cược đội tuyển Anh thắng với số tiền 20.000.000 đồng thì M đồng ý. Kết thúc trận đấu với tỉ số hòa 0 - 0, Nguyễn Hữu C thua số tiền 20.000.000 đồng.

Đầu tháng 7 năm 2021, bị cáo Nguyễn Văn M có nhu cầu đánh bạc trên mạng nên đã hỏi và mượn tài khoản đánh bạc trên trang W88.com của Nguyễn Danh T (tài khoản “Danhtoncdl 52”, mật khẩu đăng nhập “talaton1492”) thì được T đồng ý. Trước khi tham gia đánh bạc, bị cáo M phải chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của T, sau đó T trực tiếp chuyển tiền đánh bạc của M vào tài khoản đánh bạc trên trang web W88.com.

Vào ngày 03 tháng 7 năm 2021, ngày 05 tháng 7 năm 2021 và ngày 06 tháng 7 năm 2021, bị cáo M đã sử dụng tài khoản ngân hàng 19033706907013 tại Ngân hàng Techcombank của M chuyển đến tài khoản 51210000652688 tại Ngân hàng BIDV của T tổng số tiền 03 lần là 13.000.000 đồng. Sau khi nhận số tiền, T chuyển toàn bộ số tiền này đến tài khoản 14910000198555 Ngân hàng BIDV mang tên “KAM A PHI” để chuyển tiền đánh bạc vào trang W88. com cho bị cáo M sử dụng đánh bạc.

Ngày 07 tháng 7 năm 2021, bị cáo M sử dụng tài khoản “Danhtoncdl 52” đánh bạc trên trang mạng W88. com kèo “Tài 1,5” tổng số phạt góc hiệp phụ trận Tây Ban Nha và Italia với số tiền là 5.000.000 đồng (nghĩa là tổng số phạt góc hiệp phụ trận Tây Ban Nha và Italia từ hai trở lên thì đặt tài sẽ thắng cược). Sau khi có kết quả trận đấu, Nguyễn Văn M thua toàn bộ số tiền này

- Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 11 tháng 7 năm 2021, bị cáo Trần Văn B đã sử dụng điện thoại di động nhắn tin đến tài khoản Viber “Bước ngoặt” của bị cáo M để đánh bạc với kèo “Anh chấp Italia ¼ quả ăn 89; kèo tài - xỉu 8 phạt góc, tài ăn 91 xỉu ăn 76 và đặt cược kèo đội tuyển Anh thắng đội tuyển Italia với tỉ số 2-0, tỉ lệ cược 1 ăn 7,5”. Trần Văn B đặt cược kèo Anh thắng Italia số tiền 8.000.000 đồng, đặt cược kèo xỉu phạt góc số tiền 3.000.000 đồng, đặt cược kèo Anh thắng Italia với tỉ số 2 - 0 số tiền 1.000.000 đồng thì được M đồng ý. Kết thúc trận đấu với tỉ số hòa 1 - 1 nên B thua kèo đặt cược Anh thắng Italia số tiền 4.000.000 đồng, Trần Văn B thắng kèo đặt xỉu phạt góc số tiền 2.280.000 đồng, Trần Văn B thua kèo đặt cược Anh thắng Italia tỉ số 2 - 0 với số tiền 1.000.000 đồng. M và B chưa thanh toán tiền đánh bạc với nhau. Tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.280.000 đồng.

Ngoài ra, quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn M còn khai nhận: Ngoài những hành vi đánh bạc nêu trên, trong khoảng tháng 6 năm 2021, Nguyễn Văn M còn được đối tượng Ngô Thanh B, sinh năm 1987; trú tại Xóm 1, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cung cấp 01 tài khoản đánh bạc trên trang “bong8899.net”. Tuy nhiên, tài khoản đánh bạc “TN140404003” trên trang “bong8899.net” mà Bình cấp cho M đã bị khóa, B và bị cáo M không nhớ các kèo cá cược mà M tham gia nên không đủ căn cứ kết tội.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 150/2021/HS-ST ngảy 28 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn M đã tham gia cá độ 04 trận đấu bóng đá: Trận Tây Ban Nha và Thụy Điển số tiền đánh bạc là 20.000.000 đồng, trận Anh và Scotland số tiền đánh bạc là 20.000.000 đồng, trận Italia gặp Anh số tiền đánh bạc là 14.280.000 đồng, trận Italia và Tây Ban Nha số tiền đánh bạc là 5.000.000 đồng; tổng cộng 59.280.000 đồng. Bị cáo Trần Văn B tham gia cá độ trong trận Italia gặp Anh với số tiền đánh bạc 14.280.000 đồng.

Bản án sơ thẩm đã quyết định: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 12 tháng tù về tội “ Đánh bạc”; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12 tháng 7 năm 2021 đến ngày 21 tháng 7 năm 2021. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn B 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” trừ đi tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 7 năm 2021 đến ngày 27 tháng 10 năm 2021. Căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp với 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án Hình sự phúc thẩm số 156/2021/HSPT ngày 19 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo Trần Văn B phải chấp hành 09 tháng tù nhưng được trừ đi ngày đã tạm giữ từ ngày 21 tháng 3 năm 2021 đến ngày 27 tháng 3 năm 2021. Ngoài ra. Bản án còn tuyên hình phạt của các bị cáo khác, xử lý vật chứng, truy thu tiền thu lợi bất chính, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04 tháng 01 năm 2022, bị cáo Nguyễn Văn M có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xử đúng tội danh nhưng mức án 12 tháng là quá cao so với hành vi phạm tội vì bản thân khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bột phát phạm tội, phạm tội lần đầu do hiểu biết pháp luật kém; gia đình hoàn cảnh khó khăn, chấp hành nghiêm pháp luật, ông bà có nhiều đóng góp cho Nhà nước; bị cáo đã có công giúp cơ quan bảo vệ pháp luật trong phòng chống tội phạm cũng như thành tích trong phòng chống Covid - 19. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ.

Ngày 04 tháng 01 năm 2022, bị cáo Trần Văn B có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xử mức án 06 tháng tù là nặng vì sau khi biết được hành vi phạm tội, đã ra đầu thú; bản thân khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bột phát phạm tội, phạm tội lần đầu do hiểu biết pháp luật kém, gia đình hoàn cảnh khó khăn, thường xuyên ốm đau, sức khỏe kém, bố có nhiều đóng góp cho Nhà nước được Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An tặng bằng khen; bị cáo đã có công giúp cơ quan bảo vệ pháp luật trong phòng chống tội phạm cũng như thành tích trong phòng chống Covid - 19. Hiện tại, bị cáo là lao động chính, nuôi mẹ già 90 tuổi, con còn nhỏ 16 tháng tuổi. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt hoặc cho hưởng án treo.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn M có đơn kháng cáo bổ sung xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ tại địa phương và cung cấp thêm tài liệu là giấy khen của Ban chấp hành Đoàn xã Công Thành và giấy khen của Ủy ban nhân dân xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An vì đã có thành tích trong công tác Đoàn và phong trào xây dựng công trình phúc lợi địa phương. Bị cáo Trần Văn B nộp thêm giấy khen của Ủy ban nhân dân xã Viên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An có thành tích trong công tác chữa cháy rừng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn M và Trần Văn B giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa đề nghị:

- Về tố tụng: Các bị cáo Nguyễn Văn M và Trần Văn B kháng cáo hợp lệ nên được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận để xét xử là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Bị cáo Trần Văn B kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng phạm tội trong thời gian chuẩn bị xét xử về tội “Đánh bạc” của vụ án khác, bản án chưa có hiệu lực pháp luật, lại tiếp tục phạm tội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt và không cho hưởng án treo là phù hợp. Bị cáo Nguyễn Văn M kháng cáo và có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn B; chấp nhận kháng cáo của của bị cáo Nguyễn Văn M, giữ nguyên hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn M và Trần Văn B: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã xét xử. Trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 6 năm 2021 đến ngày 11 tháng 7 năm 2021, các bị cáo đã đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá dựa trên kết quả một số trận của giải đấu bóng đá Châu Âu Euro 2020. Trong đó, bị cáo Nguyễn Văn M sử dụng mạng intenet, phương tiện điện tử phục vụ việc đánh bạc với tổng số tiền 59.280.000 đồng, bị cáo Trần Văn B đánh bạc với số tiền 14.280.000 đồng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trị tự an ninh, an toàn xã hội, ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân tại địa phương. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 2 điều 321 của Bộ luật Hình sự; xét xử bị cáo Trần Văn B về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo không kháng cáo về tội danh, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo, thấy rằng:

[2.1] Đối với bị cáo Nguyễn Văn M: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có công phát hiện tội phạm được Công an huyện S, tỉnh Lai Châu có văn bản xác nhận; có thành tích trong việc phòng chống cháy rừng được Chính quyền địa phương khen thưởng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo nộp thêm giấy khen của Ban chấp hành Đoàn xã C và giấy khen của Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An vì đã có thành tích trong công tác Đoàn và phong trào xây dựng công trình phúc lợi địa phương nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của Chính quyền địa phương là cũng đủ nghiêm. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M, giữ nguyên hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

[2.2] Đối với kháng cáo của bị cáo Trần Văn B: Bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt. Bị cáo phạm tội trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm của vụ án khác, thể hiện thái độ coi thường của pháp luật nên không có căn cứ để cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương. Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, chỉ tham gia đánh bạc một lần với số tiền không nhiều và chưa thanh toán số tiền đánh bạc. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo có nộp thêm giấy khen của Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An có thành tích trong công tác chữa cháy rừng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Trần Văn B.

[3] Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Văn M và Trần Văn B kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm (về hình phạt đối với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung, truy thu tiền thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm) không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyên Văn M, sửa Bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Văn B, sửa Bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo Trần Văn B.

2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 12 (Mười hai) tháng tù và cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Văn M cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 56 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn B 04 (Bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án Hình sự phúc thẩm số 156/2021/HSPT ngày 19 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 (B) tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21 tháng 3 năm 2021 đến ngày 27 tháng 3 năm 2021 (tại Bản án Hình sự phúc thẩm số 156/2021/HSPT ngày 19 tháng 10 năm 2021) và thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 7 năm 2021 đến ngày 27 tháng 10 năm 2021 (trong vụ án này).

3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo Nguyễn Văn M và Trần Văn B không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm (về hình phạt đối với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung, truy thu tiền thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm) không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ