vanban.org

Bản án 117/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 13/04/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Thị H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 451/2021/HSST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B.

Xử phạt bị cáo Hà Thị H: 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Thị H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Thị H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 451/2021/HSST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2022/HS-PT
Ngày: 13 – 4 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong

Các Thẩm phán:

Bà Đỗ Thị Nhung

Ông Nguyễn Trung Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 06/2022/TLPT-HS ngày 10 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo Hà Thị Hoài; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 451/2021/HSST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biền Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

- Bị cáo: Hà Thị H (tên gọi khác: không), sinh năm 1985 tại tỉnh H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã P, huyện P H, tỉnh H; địa chỉ tạm trú: Số 6/4D, Khu phố 4, phường A , thành phố B, tỉnh Đ; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Chính T và bà Nguyễn Thị M; bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn N, sinh năm 1979 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 279 ngày 04/02/2021 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Biên Hoà; (Bị cáo có mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1979 (quan hệ: chồng của bị cáo);

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã P, huyện P H, tỉnh H; địa chỉ tạm trú: Số 6/4D, khu phố 4, phường A , thành phố B, tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.

(Ngoài ra, vụ án còn có những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không có triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Khoảng 21 giờ ngày 11/4/2020, Hà Thị H có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô biển 61F4 – 2570 trong tình trạng đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn trong máu là 2.7g/l), lưu thông trên đường số 4 theo hướng ngã 4 Bồn Nước đi về hướng đường Trần Quốc Toản. Khi đi trên đường số 4 Khu công nghiệp B, thuộc phường A, thành phố B, tỉnh Đ (đoạn đường dốc xuống tính theo hướng xe của H lưu thông). Lúc này H điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái, do đã sử dụng rượu bia dẫn đến thiếu tự chủ rồi lấn đường và không làm chủ tay lái nên H đã để phần đầu phía trước bên phải xe mô tô biển số 61F4 – 2570 do H điều khiển va chạm vào phía trước bên phải xe mô tô biển số 71B1 – 465.92 do anh Nguyễn Hòa T điều khiển đang lưu thông theo hướng ngược lại gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm anh T ngã xuống đường bị tử vong, H bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 88%.

Sau tai nạn Hà Thị H bị chấn thương nặng nên không nhớ diễn biến vụ án. Căn cứ vào dấu vết để lại trên hiện trường và các phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn, lời khai người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, có đủ cơ sở xác định nội dung vụ án như trên.

( iên b n khám nghiệm hiện trường, đ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên b n khám nghiệm phư ng tiện, b n nh hiện trường bút lục số: 13-43; ời khai của bị can b t ục số: 95-100; Lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai người chứng kiến; lời khai người đại diện hợp pháp cho bị hại bút lục số: 101-105, 124-125, 126, 128).

* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông ngày 11/4/2020 của Công an thành phố Biên Hòa đã xác định và ghi nhận các dấu vết vụ tai nạn như sau: (Tất cả các vị trí, dấu vết được đo vào mép đường bên phải đường số 4 theo hướng đường Trần Quốc Toản đi ra quốc lộ 1A (gọi tắt là lề phải) làm chuẩn. Mốc là trụ điện số 11 trên lề đường theo hướng quốc lộ 1A đi về hướng đường Trần Quốc Toản.

- Xe mô tô biển số 71B1 – 465.92: Nằm ngã nghiêng bên trái, hơi xéo theo đường, trên làn đường số 2(tính từ lề đường phải chiều đường Quốc Lộ 1A đi đường Trần Quốc Toản); đầu xe hướng Quốc Lộ 1A chếch lề phải, đuôi xe hướng ngược lại; Trục bánh xe trước cách lề phải là 05m90, cách cột điện số 11 làm mốc về hướng Quốc Lộ 1A là 11m60, cách gờ giảm tốc về hướng Quốc Lộ 1A là 09m90, cách đầu đường hẻm Nguyễn Thông về hướng Quốc Lộ 1A là 48m80; Trục bánh xe sau cách lề phải là 06m70.

- Xe mô tô biển số 61F4 – 2570: Nằm ngã nghiêng bên trái, ngang đường, trên làn đường số 1 (tính từ lề phải); đầu xe hướng vào lề phải, đuôi xe hướng lề đường trái; Trục bánh xe trước cách lề phải là 00m30; Trục bánh xe sau cách lề phải là 01m50 và cách trục bánh xe sau xe mô tô biển số 71B1 – 465.92 về hướng Quốc Lộ 1A là 12m90.

- Dấu vết cày xước mặt đường nhựa không liên tục, xéo từ phải sang trái (tính từ lề phải) hình thành do quá trình xe mô tô biển số 71B1 – 465.92 ngã trượt trên mặt đường tạo nên dài 03m70; Đầu vết cày cách lề phải là 05m30, cuối vết là vị trí gác chân trước bên trái của xe mô tô biển số 71B1 – 465.92.

- Dấu vết cày xước mặt đường nhựa không liên tục, xéo từ phải sang trái theo hướng Quốc Lộ 1A đi đường Trần Quốc Toản trên chiều đường tính từ lề phải, hình thành do quá trình xe mô tô biển số 61F4 – 2570 ngã trượt trên mặt đường tạo nên dài 07m50; Đầu vết cày cách lề phải là 04 m 40, cách đầu vết cày xước mặt đường hình thành do quá trình xe mô tô biển số 71B1 – 465.92 ngã trượt trên mặt đường tạo nên về hướng Quốc Lộ 1A là 01m80, cuối vết là vị trí gác chân trước bên trái của xe mô tô biển số 61F4 - 2570.

- Dấu vết máu thứ nhất: không rõ hình, in trên mặt đường nhựa trên lề phải, từ tâm vết đến lề phải là 01m90, đến trục bánh trước xe mô tô biển số 61F4-2570 về hướng đường Trần Quốc Toản là 06m20.

- Dấu vết máu thứ hai: không rõ hình, in trên mặt đường nhựa trên chiều đường Quốc Lộ 1A đi đường Trần Quốc Toản, từ tâm vết đến lề phải là 07m15, đến trục bánh sau xe mô tô biển số 71B1- 465.92 về hướng Quốc Lộ 1A là 00m70.

- Tại vị trí giữa dấu vết cày mặt đường nhựa của xe mô tô biển số 71B1 – 465.92 và xe mô tô biển số 61F4 – 2570 trên lề phải có nhiều mảnh nhựa vỡ của xe mô tô biển số 71B1 – 465.92 và xe mô tô biển số 61F4 – 2570.

* Tại kết luận giám định số: 978/KLGĐ-PC09 ngày 02/06/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai giám định dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 61F4 – 2570 và xe mô tô biển số 71B1 – 465.92 như sau:

- Hệ thống dấu vết nứt vỡ, trượt xước tại các chi tiết phía trước bên phải: ốp nhựa đầu xe, bảng điện côngtơmét, cụm đèn trước, ốp mặt nạ, yếm chắn gió, vè chắn bùn bánh trước cùng lốc máy; cong vênh biến dạng cần đạp thắng chân của xe mô tô biển số 61F4 – 2570 có chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, từ phải sang trái, hình thành do quá trình va chạm với các chi tiết phía trước bên phải tương ứng của xe mô tô biển số 71B1 – 465.92 khi hai xe va chạm trong trạng thái ngược chiều lưu thông.

- Hệ thống nứt vỡ, trượt xước, mài mòn tại các chi tiết còn lại bên trái trên cả hai xe mô tô biển số 61F4 – 2570 và xe mô tô biển số 71B1 – 465.92 hình thành do quá trình va chạm với mặt đường khi xe ngã.

* Tại kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 119/GĐHS/2020 ngày 08/5/2020 của Giám định viên Trung tâm pháp y Đồng Nai kết luận: Nguyên nhân tử vong của anh Nguyễn Hòa T do đa chấn thương gồm:

+ Chấn thương sọ não gây: Vỡ nhiều mảnh sọ trán 2 bên và nứt sọ thái dương trái, dập não trán 2 bên, phù não nặng;

+ Chấn thương hàm mặt: Vỡ nát khối sọ mặt, gãy xương hàm dưới vùng cằm/đã phẫu thuật;

+ Chấn thương ngực: Gãy xương sườn 7, 8, 9 phải, dập phổi phải.

+ Kết hợp chấn thương: Gãy đầu dưới xương đùi phải. Vỡ xương bánh chè phải. Gãy 1/3 dưới xương mác phải/đã phẫu thuật.

- Nồng độ cồn trong máu: 2.3g/l.

(Bút lục số 50-51)

* Tại Kết luận định giá tài sản số 528/KL-HĐĐGTS ngày 24/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự đã kết luận trị giá xe mô tô biển số 71B1-465.92 bị thiệt hại là 3.965.000đ (Ba triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). - (Bút lục số: 53-56)

* Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0751/TgT/2020 ngày 16/9/2020 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Đồng Nai kết luận Hà Thị H bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 88% . Nồng độ cồn trong máu của Hà Thị H là: 2,7g/l. - (Bút lục số 63-66).

2. Về bồi thường, khắc phục hậu quả thiệt hại:

- Chị Nguyễn Thị Thanh H là người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại yêu cầu bị can Hà Thị H bồi thường chi phí mai táng, chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 71B1-465.92, tiền cấp dưỡng nuôi 02 con của người bị hại và các khoản chi phí khác với số tiền là 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng). Hà Thị H chưa bồi thường. - (Bút lục số 73)

3. Về vật chứng:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả xe mô tô 71B1-465.92 cho chị Nguyễn Thị Thanh H - người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại và hiện đang tạm giữ xe mô tô biển số 61F4-2570. (Bút lục số 133-134)

4. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 338/CT-VKSBH ngày 20/5/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đ đã truy tố Hà Thị H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

+ Áp dụng điểm b, Khoản 2, Điều 260 và điểm s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Hà Thị H từ: 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

+ Đề nghị HĐXX tuyên buộc bị cáo bồi thường cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại theo quy định pháp luật.

+ Đề nghị tiếp tục tạm giữ mô tô biển số 61F4-2570 của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Tại Bản án sơ thẩm số: 36/2020/HSST ngày 22/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố B: Căn cứ điểm b, Khoản 2, Điều 260; điểm s, Khoản 1 và Khoản 2, Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Hà Thị H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Hà Thị H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ bắt đi thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 5 Điều 275, Điều 357, 468, 589, 591 và Điều 601 Bộ luật Dân sự; các Điều 71, 110, 116, 117, 118 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Buộc bị cáo Hà Thị H phải bồi thường cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại gồm có ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Như H, chị Trần Mỹ L, cháu Nguyễn Ngọc N, cháu Nguyễn Ngọc Nh số tiền: 166.227.071 đồng (một trăm sáu mươi sáu triệu, hai trăm hai mươi bảy nghìn không trăm bảy mươi mốt đồng).

Buộc bị cáo Hà Thị H có trách nhiệm cấp dưỡng cho chị Trần Mỹ L chi phí nuôi hai cháu Nguyễn Ngọc N sinh ngày 01/11/2015 và Nguyễn Ngọc Nh sinh ngày 08/6/2019 số tiền 2.000.000đồng/tháng (hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng được tính từ ngày 11/4/2020 đến khi hai cháu N, Nh đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 25/11/2021, bị cáo Hà Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Quan điểm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, Khoản 2, Điều 260 Bộ luật hình sự 2015; Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hà Thị H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ sơ thể hiện: Khoảng 21 giờ ngày 11/4/2020, tại đường số 4 Khu công nghiệp Biên Hòa 1 thuộc phường A, thành phố B, tỉnh Đ, sau khi đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn trong máu là 2.7g/l/0.5g/l, vượt quá quy định) Hà Thị H điều khiển xe mô tô biển số 61F4 - 2570 lấn sang phần đường bên trái, không làm chủ tay lái đã để phần đầu phía trước bên phải xe mô tô 61F4-2570 va chạm vào phía trước bên phải xe mô tô biển số 71B1-465.92 do anh Nguyễn Hòa T điều khiển đang lưu thông hướng ngược lại gây tai nạn giao thông làm anh T tử vong.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Hà Thị H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b, Khoản 2, Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của Nhà nước, gây tổn thất rất lớn cho gia đình của bị hại, làm mất trật tự an ninh tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn vì bản thân bị thương 88% do chính tai nạn này gây ra hiện không lao động được, được Uỷ ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh H xác nhận ngày 01/6/2021; thuộc trường hợp được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Hà Thị H mức án 03 (ba) năm tù là phù hợp và thỏa đáng.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho hưởng án treo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác chưa được xem xét. Bị cáo không cung cấp được tình tiết nào mới do đó kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Hà Thị H không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Thị H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 451/2021/HSST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B.

Áp dụng điểm b, Khoản 2, Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

1. Xử phạt bị cáo Hà Thị H: 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hà Thị H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ