- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà Tô Xuân M và bị đơn ông Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Xuân M đối với ông Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:117/2022/HNGĐ - ST Ngày: 09/9/2022. V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN - TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lại Thiện Phong
Ông Danh On
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Lê Huyền Mao - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 229/2022/TLST–HNGĐ, ngày 20 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2022/QĐXXST–HNGĐ, ngày 22 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Tô Xuân M, sinh ngày 09/8/1997. Địa chỉ: Ấp Mỹ LC, xã M, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp BG, thị tấn ND, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 7 năm 2022 và lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, bà Tô Xuân M là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2017, bà M và ông Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, đến ngày 07/11/2017 được Ủy ban nhân dân thị trấn Ngan Dừa, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn. Trong quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mẫu thuẫn ngày càng nhiều nên từ năm 2021 đến nay vợ chồng không ở chung một nhà. Nay bà M yêu cầu được ly hôn với ông T; Về quan hệ con chung: Bà M xác định có 01 con chung là cháu Nguyễn Phương Chi, sinh ngày 03/6/2018, hiện cháu Chi đang ở cùng bà M. Khi ly hôn, bà M yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 22 tháng 7 năm 2022 ông Nguyễn Văn T là bị đơn trình bày: Năm 2017, ông T và bà Tô Xuân M tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, đến ngày 07/11/2017 được Ủy ban nhân dân thị trấn Ngan Dừa, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn. Trong quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mẫu thuẫn ngày càng nhiều nên bà M về nhà cha mẹ đẻ ở từ năm 2021 đến nay. Nay bà M yêu cầu được ly hôn thì ông T đồng ý và đồng ý giao con chung là cháu Nguyễn Phương Chi, sinh ngày 03/6/2018 cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn; Về nội dung: Sau khi phân tích yêu cầu khởi kiện, những quy định của pháp luật, đề nghị: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Tô Xuân M được ly hôn với ông Nguyễn Văn T và tiếp tục giao con chung cho bà M nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Bà Tô Xuân M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn T có nơi đăng ký thường trú tại ấp BG, thị tấn ND, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn bà Tô Xuân M và bị đơn ông Nguyễn Văn T có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
Xét đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Tô Xuân M, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà Tô Xuân M và ông Nguyễn Văn T, tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, được Ủy ban nhân dân thị trấn Ngan Dừa, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu cấp giấychứng nhận kết hôn ngày 07/11/2017 nên quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, ông T và bà M có phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng nhiều nên bà M đã về nhà cha mẹ ruột ở từ năm 2021 đến nay, bà M yêu cầu được ly hôn và ông T đồng ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà M được ly hôn cùng ông T.
Về quan hệ con chung: Bà M và ông T xác định có 01 con chung là cháu Nguyễn Phương Chi, sinh ngày 03/6/2018, hiện cháu đang ở cùng bà M. Khi ly hôn, bà M yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, ông T đồng ý giao con chung cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử giao cháu Chi cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về quan hệ tài sản: Bà M và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Tô Xuân M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 53, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Xuân M đối với ông Nguyễn Văn T.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Xuân M được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phương Chi, sinh ngày 03/6/2018 cho bà Tô Xuân M tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung: Bà Tô Xuân M và ông Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Bà Tô Xuân M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006438 ngày 20/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay được chuyển thu án phí.
Bà Tô Xuân M và ông Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hồng Dân; - Chi cục THADS huyện Hồng Dân; - Đương sự; - UBND thị trấn Ngan Dừa; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cao Văn Tám |