- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thanh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117 /2021/HS-ST Ngày 22/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quốc Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và bà Doãn Thị Vệ
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà: Ông Lưu Hoàng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2021, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2021/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 12 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2021/QĐST – HS ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo:
Họ và tên Dương Thanh T, sinh năm 1985 tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội; Hiện trú tại: Tổ 2, phường T, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Ngọc T1 (đã chết) và bà Đoàn Thị T2 ( đã chết); vợ Mai Thúy H (đã ly hôn nhưng vẫn chung sống với nhau như vợ chồng), con: có hai con, lớn sinh năm 2009 và nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không
Quá trình hoạt động bản thân: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc. (có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Mai Thúy H, sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 2, phường T, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
* Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Trường T3, sinh năm 1952 (vắng mặt)
- Ông Lê Văn T4, sinh năm 1967 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/9/2021, Dương Thanh T đi từ nhà ở tổ 2 phường T, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, bằng xe mô tô biển kiểm soát (BKS): 29V3 - 450.66 của gia đình đến khu vực cổng trường xây dựng số 4 thuộc tổ 8, phường X, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, T tìm người bán ma túy nhưng không tìm thấy ai bán. T đứng đợi một lúc thì nhìn thấy một người bạn nghiện mới quen đi xe máy đến khu vực T đang đứng, T tiến lại gần hỏi người bạn nghiện này xem có ma túy bán không thì người này trả lời không có ma túy bán. T nhờ người bạn nghiện này cầm tiền đi mua ma túy hộ T, thì người này đồng ý. Sau đó T đưa cho người đàn ông này 600.000đồng để nhờ người này mua ma túy cho T. Người này cầm tiền rồi đi đâu T không biết. Được một lúc sau thì khoảng 13h 20’ người này quay lại đưa cho T 02 gói ma túy loại Heroine được bọc bằng giấy màu bạc, rồi quay xe đi đâu không biết. T cầm 02 gói ma túy loại Heroine vừa mua được, đi ra xe mô tô để đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an thành phố Phúc Yên kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói giấy màu bạc, bên trong mỗi gói giấy đều chứa các cục bột màu trắng.T tự khai nhận đây là 02 gói ma túy loại Heroine của T cất giấu để sử dụng, 02 gói giấy này được niêm phong trong phong bì kí hiệu A1 theo quy định của pháp luật; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, màu xanh-bạc- đen, biển kiểm soát: 29V3 - 450.66.
Cơ quan Công an cũng đã thu và niêm phong mẫu nước tiểu của T vào một chai nhựa để phục vụ công tácgiám định chất ma túy theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số: 2227/KLGĐ ngày07/9/2021của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đối với vật chứng thu giữ ký hiệu A1, kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3092g (Không phảy ba không chín hai gam, không kể bao bì) loại Heroine.”
Tại Bản kết luận giám định số 2319/KLGĐ ngày 10/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đối mẫu nước tiểu thu giữ của Dương Thanh T, kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Dương Thanh T gửi đến giám định.”
Cơ quan giám đinh đã hoàn lại mẫu trả A1= 0,2542 g cùng toàn bộ bao gói và 01 vỏ chai nhựa.
Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Đối với đối tượng đã mua hộ ma túy rồi đưa cho T như T khai trên, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, do đó sẽ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 98CT - VKSPY ngày 23 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố Dương Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Dương Thanh T khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Dương Thanh T; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Dương Thanh T từ 01 năm 07 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà Dương Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 03 tháng 9 năm 2021, lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 13 giờ 20 ngày 03/9/2021, khu vực cổng trường xây dựng số 4 thuộc tổ 8, phường X, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Dương Thanh T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,3092 gam heroin trong người với mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Dương Thanh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 98/CT - VKSPY ngày 23 tháng 11 năm 2021 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Xét nhân thân, tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian như mức án đề nghị của Viện kiểm sát mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung, cũng như giúp bị cáo cải tạo thành người công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ phép chất ma túy vì mục đích sử dụng cho bản thân, quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về nguồn gốc số ma túy T khai nhờ một đối tượng đã mua hộ ma túy rồi đưa cho T. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ của người mua hộ ma túy cho T, do đó sẽ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Về vật chứng vụ án: Đối với toàn bộ số ma túy cùng bao gói và 01 vỏ chai nhựa cơ quan giám định hoàn lại cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho T nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS: 29V3 - 450.66 có Giấy đăng ký mang tên chủ xe là Dương Thanh T. Quá trình xác minh đây là tài sản chung của vợ chồng T. Ngày 30/10/2021, Cơ quan điều tra đã trả xe cho vợ T là chị Mai Thúy H sinh năm 1986 có HKTT tại phường T, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Dương Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Dương Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03 tháng 9 năm 2021.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định A1 = 0,2542 gam ma túy, 01 chai nhựa đựng mẫu nước tiểu và toàn bộ bao gói sau giám định. Trả lại cho Dương Thanh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 25 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Dương Thanh T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND thành phố Phúc Yên; - Công an thành phố Phúc Yên; - Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Quốc Bình |